Bồi thường dân sự

Trong đời sống có rất nhiều những vấn đề phát sinh trách nhiệm bồi thường, khi những vấn đề phát sinh này không tồn tại trong bất kỳ bản hợp đồng nào. Vậy thì khi có những thiệt hại này xảy ra thì sẽ phải bồi thường những khoản nào, theo nguyên tắc nào. Bài viết về bồi thường dân sự của Công ty Luật Rong Ba giúp cho mọi người dễ dàng tiếp cận pháp luật về bồi thường dân sự.

Khái niệm bồi thường dân sự

Bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự đặt ra đối với cá nhân, tổ chức khi có hành vi xâm phạm đến các quyền về nhân thân và về tài sản (các quyền dân sự) của cá nhân, pháp nhân được pháp luật dân sự ghi nhận và bảo hộ.

Bồi thường thiệt hại được Bộ luật Dân sự 2015 quy định tại điều 13 như sau:

Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì?

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trường hợp bồi thường thiệt hại mà bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường cho mình bởi những thiệt hại gây ra không phải do vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, rất nhiều trường hợp trên thực tế có hành vi gây thiệt hại xảy ra nhưng giữa các bên không có ràng buộc hợp đồng trước đó nên bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng để xử lý.

Trách nhiệm bồi thường dân sự

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 thì:

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Theo quy định trên, có thể hiểu rằng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh khi:

– Có hành vi trái pháp luật

– Có thiệt hại xảy ra về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác

– Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại

– Có lỗi (trạng thái nhận thức về hành vi, hậu quả của hành vi có thể xảy ra của cá nhân).

Quy định về nguyên tắc bồi thường dân sự theo Bộ luật dân sự 2015

Dựa vào quy định tại Điều 585, Bộ luật dân sự năm 2015 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:

  1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
  3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
  4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
  5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.”

Mục đích của việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là khắc phục những tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu khi có hành vi gây thiệt hại cũng như có sự kiện tài sản gây thiệt hại. Trên cơ sở đó nhằm duy trì trật tự xã hội, đảm bảo cho lẽ công bằng được áp dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống. Để có thể đạt được mục đích này, không chỉ đòi hỏi các quy định về bổi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải được ban hành kịp thời, đầy đủ và đúng đắn, mà còn đòi hỏi việc áp dụng các quy định này cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Thông qua những nghiên cứu cụ thể, có thể nhận thấy những điểm mới với những sự hợp lý cũng như bất cập sau:

Thứ nhất: Trong BLDS năm 2005, trong nguyên tắc bồi thường thiệt hại có ghi “thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Tuy nhiên, trong BLDS năm 2015 lại quy định: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bồ và kịp thời”. Sự thay đổi này cho thấy chỉ những thiệt hại thực tế mới được bồi thường. Những thiệt hại do suy đoán hoặc không có căn cứ xác định thì không được bồi thường.

Bồi thường toàn bộ được hiểu là thiệt hại xảy ra bao nhiêu thì phải được bồi thường bấy nhiêu. Đây là nguyên tắc được áp dụng trong hầu hết các vụ việc liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, thiệt hại xảy ra trên thực tế có được bồi thường toàn bộ hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: người bị thiệt hại có đưa ra được đầy đủ các căn cứ chưng minh cho tât cả các loại thiệt hại không( có những thiệt hại rất khó chứng minh như tiền xe ôm đi lại để kiểm tra sức khỏe); người bj thiệt hại có lỗi đối với thiệt hại xảy ra với mình không; các bên có thỏa thuận về mức bồi thường hay không; người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có được giảm mức bồi thường hay không. Do đó, nhiều vụ việc xảy ra trên thực tế, thiệt hại thực tế có thể được xác định cụ thể nhưng người bị thiệt hại có thể không được bồi thường toàn bộ thiệt hại.

Thứ hai, về việc giảm mức bồi thường, có ba sự thay đổi, cụ thể:

Một là, theo BLDS năm 2005, người được giảm mức bồi thường là “người gây thiệt hại”. Tuy nhiên, theo BLDS năm 2015, người được giảm mức bồi thường được xác định là “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Sự thay đổi này là phù hợp, bởi vì người phải bồi thường thiệt hại đôi khi không phải là người gây thiệt hại. Hơn nữa, nếu theo quy định trong BLDS năm 2005, nhiều người sẽ cho rằng chỉ những người nào trực tiếp gây thiệt hại mà phải bồi thường thì mới có thể được giảm mức bồi thường, còn những người không gây thiệt hại nhưng phải bồi thường (ví dụ cha mẹ bồi thường thiệt hại do con dươi 15 tuổi gây thiệt hại) thì không được giảm mức bồi thường.

Hai là, theo BLDS năm 2005, chỉ những người có lỗi vô ý mới được giảm mức bồi thường. Theo BLDS năm 2015, người được giảm mức bồi thường co thể là “người không có lỗi” hoặc “lỗi vô ý”. Sự thay đổi này là hoàn toàn phù hợp, bởi vì nếu quy định như BLDS năm 2005 là không phù hợp, điều này dẫn đến sự khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc giảm mức bồi thường trong trường hợp người chịu trách nhiệm bồi thường mà “không có lỗi”.

Ba là, theo BLDS năm 2005, người được giảm mức bồi thường chỉ là những người gây thiệt hại lớn hơn khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình. Tuy nhiên, trong BLDS năm 2015, cụm từ “trước mắt và lâu dài” đã được loại bỏ. Tức là thiệt hại chỉ cần lớn hơn khả năng kinh tế tạo thời điểm giải quyết vấn đề bồi thường thì mức bồi thường đã có thể được giảm. Điều này là phù hợp, bởi vì việc xác định khả năng kinh tế ở một thời điểm trong tương lai của người gây thiệt hại là không thực tế và khó xác định.

bồi thường dân sự

bồi thường dân sự

Thứ ba, BLDS năm 2015 bổ sung thêm hai nguyên tắc bồi thường thiệt hại:

Một là, “khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”. Đây không phải là quy định mới xuất hiện trong BLDS năm 2015, mà quy định này đã được đề cập trong BLDS năm 2005. Tuy nhiên, điểm mới thể hiện ở chỗ, trong BLDS năm 2005, quy định này được coi là một trong các trường hợp bồi thường cụ thể và thuộc nội dung của mục 3. Đến BLDS năm 2015, đây lại là một nguyên tắc bồi thường thiệt hại. Điểm mới này là hoàn toàn phù hợp, bởi quy định này có thể áp dụng chung cho mọi trường hợp bồi thường thiệt hại trên thực tế, bao gồm cả thiệt hại do hành vi gây ra và thiệt hại do tài sản gây ra.

Hai là, “Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”. Đây là nguyên tắc bồi thường thiệt hại mới trong đề cập BLDS năm 2015. Điểm mới này là một sự tiến bộ so với BLDS năm 2005. Nó cụ thể hóa một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tạo khoản 3 Điều 3 BLDS năm 2005 đó là: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chó, tủng thực”. Tuy nhiên, quy định này cũng có hạn chế ở chỗ, nếu thiệt hại xảy ra ngay khi có hành vi xâm phạm mà việc ngăn chặn, hạn chế cũng không thể làm cho những thiệt hại “đã xảy ra” trở thành “chưa xảy ra” thì việc không ngăn chặn, hạn chế chỉ nên được sửa đổi theo hướng như sau: “Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường một phần hoặc toàn bộ nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”. Tức là nên thêm cụm từ “một phần hoặc toàn bộ” vào giữa cụm từ “không được bồi thường” và cụm từ “nếu thiệt hại xảy ra”.

Trong Điều này, chỉ có nguyên tắc thay đổi mức bồi thường được giữ nguyên như trong Điều 605 BLDS năm 2005. Theo quy định tại khoản 3 Điều này, mức bồi thường thiệt hại có thể được thay đổi so với mức bồi thường tại thời điểm Tòa án giải quyết tranh chấp. Sự thay đổi này có thể là tăng lên hoặc giảm đi so với mức bồi thường ban đầu. Cả bên bồi thường và bên được bồi thường đều có quyền đưa ra yêu cầu thay đổi mức bồi thường này. Việc thay đổi mức bồi thường chỉ đặt ra đối với trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động hoặc người bị thiệt hại chết. Đây là những trường hợp mà việc bồi thường thiệt hại không được thực hiện một lần mà kéo dài trong một khoảng thời gian do Tòa án xác định. Nguyên tắc này không chỉ đảm bảo quyền lợi của các bên, mà còn bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc khác như nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về bồi thường dân sự. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về bồi thường dân sự và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm. 

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775