Trộm cắp tài sản

Quyền tài sản của người sở hữu được pháp luật bảo vệ. Những hành vi nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản trái pháp luật đều sẽ bị truy cứu trách nhiệm. Trộm cắp tài sản là một trong những tội xảy ra phổ biến trong nhóm tội xâm phạm đến quyền sở hữu. Bài viết sau đây của Công ty Luật Rong Ba về tội trộm cắp tài sản, từ đó bạn có thể dễ dàng nhận biết và phân biệt với các tội phạm xâm phạm sở hữu còn lại.

Trộm cắp tài sản là gì?

Trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút, bí mật chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác (chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản) thành của mình.

Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản so với các tội xâm phạm quyền sở hữu khác là người phạm tội có hành vi lén lút, bí mật di chuyển bất hợp pháp tài sản của người khác nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản này. “Lén lút” được xem là đặc điểm mang tính riêng biệt của tội trộm cắp tài sản. Tính chất lén lút (bí mật) của hành vi trộm cắp tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội giấu diếm hành vi phạm tội của mình. Lén lút, đối lập với công khai trắng trợn. 

Ngoài dấu hiệu lén lút, tội trộm cắp tài sản phải có thêm dấu hiệu là tài sản đang có chủ: Tài sản là đối tượng của tội trộm cắp tài sản phải là tài sản đang có chủ. Điều đó có nghĩa là tài sản còn nằm trong sự chiếm hữu của người chủ, tức là tài sản này đang chịu sự chi phối về mặt thực tế của người chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản. Người chủ tài sản có thể thực hiện các quyền sở hữu về tài sản như sử dụng, định đoạt tài sản… hoặc tài sản đang còn trong khu vực quản lý, bảo quản của chủ tài sản

Quy định tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tại Điều 173 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội trộm cắp tài sản như sau:

trộm cắp tài sản

trộm cắp tài sản

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Phân tích dấu hiệu pháp lý của Tội trộm cắp tài sản:

Chủ thể:

Đối với tội trộm cắp tài sản, chủ thể của tội phạm cũng tương tự như đối với tội xâm phạm sở hữu khác. Tuy nhiên, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 173 BLHS, vì khoản 1 Điều 138 BLHS là tội phạm ít nghiêm trọng và khoản 2 Điều 138 BLHS là tội phạm nghiêm trọng, mà theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS thì người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê một cách cụ thể, trong đó có tội trộm cắp tài sản.

Khách thể của tội trộm cắp tài sản

Tội phạm xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân. Sau khi thực hiện xong hành vi trộm cắp mà người phạm tội trong quá trình bỏ chạy mà bị truy đuổi còn có hành vi chống trả mà xâm phạm đến những khách thể khác được pháp luật hình sự bảo vệ thì phải chịu TNHS về tội danh đó.

Hành vi của Tội trộm cắp tài sản

Hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt của tội này có 2 dấu hiệu để phân biệt với tội khác là dấu hiệu lén lút và dấu hiệu đang có người quản lý.

Lén lút là dấu hiệu trái ngược với dấu hiệu công khai ở các tội đã trình bày. Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút khi nó được thực hiện bằng hình thức mà hình thức đó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết là có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra. Người phạm tội có ý thức che giấu hành vi đang thực hiện của mình.

Việc che giấu này chỉ đòi hỏi đối với chủ tài sản, còn đối với người khác thì vẫn là che giấu nhưng có thể là: Che giấu toàn bộ hành vi phạm tội như che giấu với chủ tài sản hoặc chỉ che giấu tính phi pháp của hành vi (Ví dụ: Lợi dụng thủ kho đi vắng, vận chuyển hành lên ô tô một cách đàng hoàng như là có việc xuất hàng bình thường).Người phạm tội đã không che giấu hành vi thực tế mà chỉ che giấu tính chất phi pháp của hành vi.

Những người không phải là chủ tài sản vẫn biết sự việc đó xảy ra nhưng không biết đó là hành vi trộm cắp.

Tài sản là đối tượng của tội trộm cắp là tài sản đang có người quản lý: Đang trong sự quản lý của người khác; đang trong khu vực quản lý, bảo quản. (Nếu chủ thể thực sự sai lầm cho rằng tài sản đang không có người quản lý thì không cấu thành tội này).

Tài sản đang trong sự chiếm hữu của người khác là đang nằm trong sự chi phối về mặt thực tế của chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm.

Tài sản đang còn trong khi vực quản lý, bảo quản của chủ tài sản: Đây là trường hợp tài sản cụ thể, tuy đã thoát li khỏi sự chi phối về mặt thực tế của chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm nhưng vẫn nằm trong phạm vi thuộc khu vực bảo quản.

Hậu quả của tội trộm cắp tài sản:

Hậu quả của tội phạm này cũng là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Nói chung, tài sản bị chiếm đoạt do hành vi trộm cắp gây ra là tiền các loại, hàng hoá và các giấy tờ có giá trị thanh toán như phiếu công trái, ngân phiếu,… Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều trường hợp người bị hại không bị mất tài sản mà chỉ mất các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản như: giấy chứng nhận đăng ký xe máy, xe ôtô; giấy chứng nhận quyền sở hữu về nhà ở; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.v.v…Các trường hợp này, thông thường người phạm tội thực hiện hành vi trộm cắp nhưng không biết tài sản mà mình định trộm cắp là bao nhiêu, gồm những loại tài sản nào như: trộm cắp túi xách, ví (bóp)… nhưng sau khi kiểm tra không có tiền hoặc tài sản có giá trị mà chỉ có các giấy tờ trên. 

Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

Hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại thì mới cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Mặt chủ quan của tội phạm

Cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt khác, tội trộm cắp tài sản cũng được thực hiện do cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt sản. Vì vậy, có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản, nếu mục đich đó không cấu thành một tội phạm độc lập.

Hiình phạt:

Hình phạt chính đối với tội trộm cắp tài sản

Mức hình phạt của tội trộm cắp tài sản được chia thành 04 khung, cụ thể như sau:

Khung một (khoản 1)

Có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan.

Khung hai (khoản 2)

Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Được áp dụng đối vối một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

Có tổ chức (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Có tính chất chuyên nghiệp (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm. Được hiểu là các thủ đoạn tinh vi rất khó phát hiện (như bố trí trộm cắp xe gắn máy tại bãi giữ xe) và các thủ đoạn mang tính nguy hiểm gây thiệt hại thêm cho chủ sở hữu (như dỡ mái nhà để trèo vào trộm cắp…)

Hành hung để tẩu thoát (xem giải thích tương tự ở tội cướp giật tài sản).

Tài sản là bảo vật quốc gia;

Tái phạm nguy hiểm (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Khung ba (khoản 3)

Có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Được áp dụng đối vói một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

Li dụng thiên tai, dịch bệnh.

Khung bốn (khoản 4)

Có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.  Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau:

Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Hình phạt bổ sung:

Ngoài việc phải chịu một trong các hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể, người phạm tội trộm cắp tài sản còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về tội trộm cắp tài sản. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về tội tội trộm cắp tài sản và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775