Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ

Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới được quy định tại điều 165 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hiện nay (Tội danh này trước đây được quy định tại điều 130 luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009).

Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ. Cấu thành của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của Luật hình sự.

Trong bài viết dưới đây Rong Ba Group sẽ cung cấp cho bạn đọc một số thông tin hữu ích liên quan đến tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của pháp luật.

Quy định luật hình sự trước đây về tội xâm phạm quyền bình đẳng giới.

Điều 130, luật hình sự năm 1999 quy định về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ:

Người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Quy định luật hình sự hiện nay về tội xâm phạm quyền bình đẳng giới.

Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới được quy định tại điều 165 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:

Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới là trường hợp vì lý do giới mà thực hiện hành vi dưới bất kì hình thức nào cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, y tế.

Dấu hiệu chủ thể cùa tội phạm:

Chủ thể của tội phạm này được quy định là người đã bị xử lí kỉ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi được quy định tại Điều luật này mà còn vi phạm.

Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là hành vi cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, y tế bằng bất cứ hình thức nào.

Theo đó, hành vi cản trở được nêu trên có thể được thực hiện.

Khung hình phạt tăng nặng có mức phạt phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm được quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

(Phạm tội có sự) lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

Phạm tội 02 lần trở lên;

(Phạm tội) đổi với 02 người trở lên.

Khung hình phạt bổ sung được quy định (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Phân tích cấu thành tội xâm phạm quyền bình đẳng giới.

Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm.

Cũng như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ cũng phải đảm bảo các yếu tố (điều kiện) cần và đủ như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại các điều 12; 13 Bộ luật Hình sự. Đối với tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ. Tuy nhiên, đối với tội phạm này cũng có nhiều trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn.

Các dấu hiệu thuộc mặt khách thể của tội phạm.

Khách thể của tội phạm này là quyền bình đẳng của phụ nữ. Quyền này được quy định tại hiến pháp năm 1992 (điều 52: mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; điều 54: công dân không phân biệt nam nữ… có quyền bầu cử, quyền ứng cử theo quy định của pháp luật; đặc biệt điều 63 quy định cụ thể quyền bình đẳng của phụ nữ).

Các quyền trên còn được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật khác của nhà nước có liên quan đến quyền bình đẳng của phụ nữ.

Đối tượng tác động của tội phạm này là các hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội của phụ nữ.

Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm.

Hành vi khách quan

Theo điều văn của điều luật thì tội phạm này chỉ có một hành vi khách quan, đó là hành vi cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội. Tuy nhiên, để cản trở phụ nữ tham gia các hoạt động trên, người phạm tội thực hiện nhiều thủ đoạn khác nhau tùy thuộc vào mục đích, động cơ của người phạm tội.

Dùng vũ lực đối với phụ nữ để cản trở họ không được tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội là dùng sức mạnh thể chất tác động vào thân thể phụ nữ như: đánh, trói, nhốt trong buồng, trong hầm để phụ nữ không được tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội.

Ví dụ: vì không muốn cho vợ tham gia vào đội văn nghệ của cơ quan nên Trần Quốc V đã túm tóc đánh chị Nguyễn Thị H làm cho chị H không tham gia đội văn nghệ

được. Hành vi dùng vũ lực của người phạm tội đối với phụ nữ phải là hành vi chưa gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của phụ nữ tới mức cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nếu tỷ lệ thương tật tới mức cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại điều 104 Bộ luật hình sự.

Hành vi dùng vũ lực trong tội phạm này cũng tương tự như hành vi của người phạm tội hành hạ người khác quy định tại điều 110 Bộ luật hình sự, nhưng người bị hại trong tội hành hạ người khác là người lệ thuộc vào người phạm tội.

Nếu người phụ nữ lệ thuộc vào người phạm tội thì dù có hành vi xâm phạm này là quyền bình đẳng của phụ nữ thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hành hạ người khác theo điều 110 mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm này là quyền bình đẳng của phụ nữ.

Nếu người phụ nữ là bà, mẹ, vợ, con cháu, người có công nuôi dưỡng người phạm tội thì hành vi hành hạ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình quy định tại điều 151 Bộ luật hình sự.

Hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội là hành vi không phải dùng vũ lực nhưng cũng làm cản trở phụ nữ tham gia các hoạt động trên như: đe dọa dùng vũ lực, đe dọa gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần của người phụ nữ (như dọa ly hôn nếu cứ tham gia, dọa công bố bí mật đời tư, dọa đuổi việc, cắt tiền lương tiền thưởng…)

Hậu quả

Hậu quả của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là những thiệt hại do hành vi cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội.

Những thiệt hại này có thể là thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần nhưng chủ yếu là thiệt hại về tinh thần mà trực tiếp là các quyền của phụ nữ bị xâm phạm. Nếu có thiệt hại về vật chất thì những thiệt hại đó chỉ là gián tiếp do hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ gây ra.

Nếu những thiệt hại về vật chất lại do hành vi cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội gây ra thì tùy trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng.

Ví dụ: do không muốn người yêu mình tham gia đội văn nghệ nên Đào Văn T đã đánh đập chị Vũ Thị C gây thương tích có tỷ lệ thương tật 12%. Hành vi của T không còn là hành vi phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ mà là hành vi cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại điều104 Bộ luật hình sự, còn hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ chỉ là tình tiết xem xét khi quyết định hình phạt.

Trường hợp người phạm tội dùng vũ lực đối với phụ nữ để cản trở họ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội nhưng không có tỷ lệ thương tật hoặc tỷ lệ thương tật dưới 11% và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 điều 104 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ.

Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm.

Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ được thực hiện do cố ý (cố ý phạm tội), tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả.

Nói chung, người phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ thực hiện hành vi của mình do cố ý trực tiếp (hình thức lỗi cố ý thứ nhất), nhưng cũng có trường hợp người phạm tội chỉ nhận thức được hành vi là trái pháp luật, có thể thấy trước hậu quả của hành vi, không mong muốn nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra (hình thức lỗi cố ý gián tiếp).

Người phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ có nhiều động cơ khác nhau, động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này nên việc xác định động cơ của người phạm tội chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.

Mục đích của người phạm tội là mong muốn người phụ nữ không tham gia được các hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội.

tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ

tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ

Hình phạt đối với tội xâm phạm quyền bình đẳng giới theo Bộ luật hình sự mới nhất.

Điều luật quy định tội phạm này chỉ có một khung hình phạt duy nhất với mức hình phạt là phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm. Được áp dụng trong trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này nêu ở mặt khách quan.

Khi nào một người phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng giới (tội phạm hoàn thành).

Tội phạm xâm phạm quyền bình đẳng giới hoàn thành (có nghĩa là người phạm tội phải chịu đầy đủ trách nhiệm hình sự và hình phạt theo quy định tại Điều 165 BLHS) khi hành vi phạm tội thỏa mãn đầy đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản (cấu thành cơ bản) sau đây:

Người đó phải đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự;

Người đó đã thực hiện hành vi cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;

Người đó phải thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý.

Cấu thành tội phạm gồm hai loại: Cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức. Tội phạm có cấu thành vật chất hoàn thành khi hậu quả đã xẩy ra, còn cấu thành tội phạm hình thức hoàn thành khi hành vi phạm tội xẩy ra mà không phụ thuộc vào việc hậu quả đã xẩy ra hay chưa.

Nội hàm cụm từ “xâm phạm quyền bình đẳng giới” được quy định trong nội dung điều luật đã thể hiện hậu quả thiệt hại (vật chất, tinh thần) do hành vi cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế đã xảy ra.

Do đó, tội xâm phạm quyền bình đẳng giới được pháp luật quy định là tội có cấu thành vật chất và tội phạm hoàn thành khi thiệt hại (vật chất, tinh thần) do hành vi cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế đã xảy ra.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Rong Ba Group về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của BLHS. Nếu Quý khách hàng còn vướng mắc liên quan đến nội dung tư vấn trên của Rong Ba Group, vui lòng liên hệ theo Hotline để được tư vấn nhanh chóng và hiệu quả nhất.

Hình thức tư vấn Tư vấn phong phú tại Rong Ba Group

Tư vấn qua tổng đài

Trong tất cả các hình thức tư vấn pháp luật hiện nay, phương pháp qua tổng đài được lựa chọn nhiều hơn cả. Bởi đây là hình thức tư vấn nhanh chóng, tiết kiệm, không giới hạn khoảng cách địa lý và thời gian. Các tư vấn viên của Rong Ba Group làm việc 24/7 luôn sẵn sàng giải đáp bất kỳ thông tin nào của bạn.

Cách kết nối Tổng đài Rong Ba Group

Để được các Luật sư và chuyên viên pháp lý tư vấn về chế độ thai sản, khách hàng sẽ thực hiện các bước sau:

Bước 1: Khách hàng sử dụng điện thoại cố định hoặc điện thoại di động gọi tới số Tổng đài

Bước 2: Sau khi kết nối tới tổng đài tư vấn , khách hàng sẽ nghe lời chào từ Tổng đài và làm theo hướng dẫn của lời chào

Bước 3: Khách hàng kết nối trực tiếp tới tư vấn viên và đặt câu hỏi hoặc đề nghị được giải đáp thắc mắc liên quan đến bảo hiểm xã hội;

Bước 4: Khách hàng sẽ được tư vấn viên của công ty tư vấn, hướng dẫn và giải đáp các thắc mắc liên quan

Bước 5: Kết thúc nội dung tư vấn, khách hàng lưu ý hãy lưu lại số tổng đài vào danh bạ điện thoại để thuận tiện cho các lần tư vấn tiếp theo (nếu có)

Thời gian làm việc của Tổng đài Rong Ba Group

Thời gian làm việc của Tổng đài Rong Ba Group như sau:

Ngày làm việc: Từ thứ 2 đến hết thứ 7 hàng tuần

Thời gian làm việc: Từ 8h sáng đến 12h trưa và từ 1h chiều đến 9h tối

Lưu ý: Chúng tôi sẽ nghỉ vào các ngày chủ nhật, ngày lễ, tết theo quy định của Bộ luật lao động và các quy định hiện hành

Hướng dẫn Tư Vấn Luật tổng đài: 

Nếu bạn có nhu cầu tư vấn, giải đáp thắc mắc pháp luật bạn vui lòng Gọi số  nghe hướng dẫn và lựa chọn lĩnh vực cần tư vấn để gặp, đặt câu hỏi và trao đổi trực tiếp với luật sư, luật gia chuyên môn về Bảo hiểm Thai sản.

Trong một số trường hợp các luật sư, chuyên viên tư vấn pháp luật của chúng tôi không thể giải đáp chi tiết qua điện thoại, Rong Ba Group sẽ thu thập thông tin và trả lời tư vấn bằng văn bản (qua Email, bưu điện…) hoặc hẹn gặp bạn để tư vấn trực tiếp.

Tư vấn qua email

Sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật qua email trả phí của Rong Ba Group bạn sẽ được:

Tư vấn ngay lập tức: Ngay sau khi gửi câu hỏi, thanh toán phí tư vấn các Luật sư sẽ tiếp nhận và xử lý yêu cầu tư vấn của bạn ngay lập tức!

Tư vấn chính xác, đầy đủ căn cứ pháp lý: Yêu cầu tư vấn của bạn sẽ được các Luật sư tư vấn chính xác dựa trên các quy định của pháp luật. Nội dung trả lời bao gồm cả trích dẫn quy định của pháp luật chính xác cho từng trường hợp.

Hỗ trợ giải quyết toàn bộ, trọn vẹn vấn đề: Cam kết hỗ trợ giải quyết tận gốc vấn đề, tư vấn rõ ràng – rành mạch để người dùng có thể sử dụng kết quả tư vấn để giải quyết trường hợp thực tế đang vướng phải

Do Luật sư trực tiếp trả lời: Câu hỏi của bạn sẽ do Luật sư trả lời! Chúng tôi đảm bảo đó là Luật sư đúng chuyên môn, nhiều kinh nghiệm, có khả năng tư vấn và giải quyết trường hợp của bạn!

Phí tư vấn là: 300.000 VNĐ/Email tùy thuộc vào mức độ phức tạp của vụ việc mà bạn đưa ra cho chúng tôi.

Nếu cần những căn cứ pháp lý rõ ràng, tư vấn bằng văn bản, có thể đọc đi đọc lại để hiểu kỹ và sử dụng làm tài liệu để giải quyết vụ việc thì tư vấn pháp luật qua email là một dịch vụ tuyệt vời dành cho bạn!

Nhưng nếu bạn đang cần được tư vấn ngay lập tức, trao đổi và lắng nghe ý kiến tư vấn trực tiếp từ các Luật sư thì dịch vụ tư vấn pháp luật qua tổng đài điện thoại là sự lựa chọn phù hợp dành cho bạn!

Tư vấn luật trực tiếp tại văn phòng

Nếu bạn muốn gặp trực tiếp Luật sư, trao đổi trực tiếp, xin ý kiến tư vấn trực tiếp với Luật sư thì bạn có thể sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tiếp tại văn phòng của chúng tôi!

Chúng tôi sẽ cử Luật sư – Chuyên gia – Chuyên viên tư vấn phù hợp với chuyên môn bạn đang cần tư vấn hỗ trợ bạn!

Đây là hình thức dịch vụ tư vấn pháp luật có thu phí dịch vụ! Phí dịch vụ sẽ được tính là: 300.000 VNĐ/giờ tư vấn tại văn phòng của Rong Ba Group trong giờ hành chính.

Số điện thoại đặt lịch hẹn tư vấn: 

Chúng tôi sẽ gọi lại để xác nhận lịch hẹn và sắp xếp Luật sư phù hợp chuyên môn để phục vụ bạn theo giờ bạn yêu cầu!

Tư vấn luật tại địa chỉ yêu cầu

Nếu bạn có nhu cầu tư vấn pháp luật trực tiếp, gặp gỡ trao đổi và xin ý kiến trực tiếp với Luật sư nhưng công việc lại quá bận, ngại di chuyển thì bạn có thể sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật trực tiếp tại địa chỉ khách hàng yêu cầu của chúng tôi.

Đây là dịch vụ tư vấn – hỗ trợ pháp lý có thu phí Luật sư. Phí Luật sư sẽ được báo chi tiết cụ thể khi chúng tôi nhận được thông tin địa chỉ nơi tư vấn. Hiện tại Rong Ba Group mới chỉ có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật trực tiếp tại nơi khách hàng yêu cầu.

Rong Ba Group sẽ cử nhân viên qua trực tiếp địa chỉ khách hàng yêu cầu để phục vụ tư vấn – hỗ trợ pháp lý. Để sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật trực tiếp tại địa chỉ theo yêu cầu, bạn có thể đặt lịch hẹn với chúng tôi theo các cách thức sau:

Gọi đến số đặt lịch hẹn tư vấn của chúng tôi:  (Lưu ý: Chúng tôi không tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại này. Số điện thoại này chỉ kết nối tới lễ tân để tiếp nhận lịch hẹn và yêu cầu dịch vụ).

Chúng tôi sẽ gọi lại để xác nhận lịch hẹn và sắp xếp Luật sư phù hợp chuyên môn xuống trực tiếp theo địa chỉ bạn cung cấp để tư vấn – hỗ trợ!

Rong Ba Group cam kết bảo mật thông tin của khách hàng

Mọi thông tin bạn cung cấp và trao đổi qua điện thoại cho Rong Ba Group sẽ được bảo mật tuyệt đối, chúng tôi có các biện pháp kỹ thuật và an ninh để ngăn chặn truy cập trái phép nhằm tiêu hủy hoặc gây thiệt hại đến thông tin của quý khách hàng.

Tuân thủ pháp luật, tôn trọng khách hàng, nghiêm chỉnh chấp hành các nguyên tắc về đạo đức khi hành nghề Luật sư. Giám sát chất lượng cuộc gọi, xử lý nghiêm minh đối với các trường hợp tư vấn không chính xác, thái độ tư vấn không tốt.

Với năng lực pháp lý của mình, Rong Ba Group cam kết thực hiện việc tư vấn đúng pháp luật và bảo vệ cao nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. 

Chúng tôi tư vấn dựa trên các quy định của pháp luật và trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Chúng tôi liên tục nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển con người, nâng cấp hệ thống để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn!

Rong Ba Group cung cấp dịch vụ tư vấn luật hàng đầu tại Việt Nam

Nếu các bạn đang cần tìm một công ty tư vấn luật uy tín, nhanh chóng và hiệu quả, vui lòng liên hệ với chúng tôi!

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775