Quy định giảm nhẹ hình phạt cho phụ nữ mang thai

Chính sách hình sự nhân đạo luôn được Nhà nước ta quan tâm quy định để áp dụng đối với người phạm tội. Trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến giải quyết vụ án hình sự đều thể hiện các quy định có lợi cho người bị buộc tội và chấp hành án. Pháp luật hình sự luôn có chính sách khoan hồng đối với một vài đối tượng đặc biệt chẳng hạn miễn hình phạt với người không có năng lực trách nhiệm hình sự, quy định giảm nhẹ hình phạt cho phụ nữ mang thai,…  Vậy, quy định giảm nhẹ hình phạt cho phụ nữ mang thai như thế nào? Hãy cùng Luật Rong Ba tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Quy định giảm nhẹ hình phạt cho phụ nữ mang thai:

Tại Điều 29 BLHS, các căn cứ miễn TNHS được quy định như sau:

“1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá.

2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3. Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”.

quy định giảm nhẹ hình phạt cho phụ nữ mang thai

quy định giảm nhẹ hình phạt cho phụ nữ mang thai

Một cá nhân phạm tội khi có đủ một trong những căn cứ như trên thì có thể xem xét được miễn chấp hành hình phạt. Đối với phụ nữ mang thai cũng vậy. Tuy nhiên, nếu không đáp ứng đủ điều kiện để được miễn TNHS, thì khi xét xử và quyết định hình phạt họ sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS.

Bộ luật Hình sự không đưa ra định nghĩa cụ thể về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng có thể hiểu một cách đơn giản, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những quy định về điều kiện, hoàn cảnh, tình huống để Tòa án cân nhắc, xem xét việc áp dụng hình phạt theo hướng giảm nhẹ cho người phạm.

Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự  quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong đó Điểm n Khoản 1 Điều 51 có quy định “Người phạm tội là phụ nữ có thai” là một tình tiết giảm nhẹ. Như vây, pháp luật hình sự quy định giảm nhẹ hình phạt cho phụ nữ mang thai.

Khoản 1 Điều 50 BLHS 2015 quy định Căn cứ quyết định hình phạt:

Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Do vậy, khi phụ nữ mang thai phạm tội căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ cùng với việc cân nhắc vào tính chất, mức độ nguy hiểm, nhân thân người phạm tội mà Tòa án sẽ xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bên cạnh đó,  Điểm b Khoản 1 Điều 61 BLHS quy định về việc hoãn chấp hành phạt tù thì: “Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi”;

Do đó, khi chấp hành hình phạt, để bảo đảm cho sức khỏe cho người mẹ cũng như đứa con mà phụ nữ đang mang thai được hoãn chấp hành hình phạt cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi.

Điều 40 BLHS quy định về hình phạt Tử hình như sau:

“1. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

2. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

3. Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

b) Người đủ 75 tuổi trở lên;

c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

4. Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân”.

Mang thai được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi nào?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 52 thì mang thai là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên không phải lúc nào mang thai cũng sẽ giảm nhẹ mà phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Cụ thể:

Mang thai được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi người phụ nữ đang có thai khi thực hiện tội phạm hoặc trong giai đoạn xét xử. Người phụ nữ phải chứng minh là mình có thai khi phạm tội. Trong trường hợp chưa có đủ căn cứ để kết luận người phụ nữ có thai khi phạm tội thì phải căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn y tế hoặc kết luận giám định.

Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào thời kỳ mang thai, ảnh hưởng của tình trạng thai nhi đến việc thực hiện tội phạm của bị cáo.

Áp dụng biện pháp tạm giam với bị cán, bị cáo là phụ nữ đang mang thai 

Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như sau:

“Điều 119. Tạm giam

1. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

2. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội

đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

3. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

4. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

b) Tiếp tục phạm tội;

c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;

d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

5. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.

6. Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị tạm giam cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc, học tập biết.”

Theo quy định trên, đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai thì sẽ không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Tuy nhiên, có một số trường hợp bị can, bị cáo là phụ nữ có thai bị tạm giam, cụ thể:

Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

Tiếp tục phạm tội;

Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;

Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về quy định giảm nhẹ hình phạt cho phụ nữ mang thai. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về quy định giảm nhẹ hình phạt cho phụ nữ mang thai và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775