Điều 173 bộ luật hình sự 2015

Ở nước ta, quyền sở hữu là một quyền con người quan trọng được quy định và bảo hộ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật ở các lĩnh vực như: hình sự, hành chính, dân sự,… Trộm cắp tài sản là một trong những tội xảy ra phổ biến trong nhóm tội xâm phạm đến quyền sở hữu. Vậy người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của Điều 173 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017? Sau đây, bài viết của Công ty Luật Rong Ba sẽ trình bày và phân tích dấu hiệu pháp lý về tội trộm cắp tài sản tại Điều 173 Bộ Luật hình sự 2015.

Trộm cắp tài sản là gì?

Trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý

Đặc điểm của tội trộm cắp tài sản:

Thứ nhất, tội trộm cắp tài sản là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Tính nguy hiểm được thể hiện ở chỗ nó gây thiệt hại cho quyền sở hữu của người khác, được xác định thông qua các tình tiết: thiệt hại về tài sản mà tội phạm đã gây ra, thủ đoạn phạm tội, mức độ lỗi cố ý, động cơ, mục đích của tội phạm,…

Thứ hai, tội trộm cắp tài sản là hành vi có tính có lỗi. Lỗi của tội trộm cắp tài sản là lỗi cố ý trực tiếp, là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác và hậu quả do hành vi đó gây ra

Thứ ba, tội trộm cắp tài sản là hành vi có tính trái pháp luật. Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Thứ tư, tội trộm cắp tài sản là hành vi có tính phải chịu hình phạt. 

Quy định tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

điều 173 Bộ luật hình sự 2015

điều 173 Bộ luật hình sự 2015

Tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội trộm cắp tài sản như sau:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Phân tích dấu hiệu pháp lý của Tội trộm cắp tài sản:

Chủ thể:

Đối với tội trộm cắp tài sản, chủ thể của tội phạm chỉ cần thoả mãn là có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản trong mọi trường hợp, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 173 BLHS.

Khách thể của tội trộm cắp tài sản

Tội phạm xâm phạm đến quyền sở hữu, cụ thể là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ tài sản đối với tài sản bị trộm cắp

Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản. Tài sản theo quy định của BLDS gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản. Tuy nhiên, quyền tài sản không phải là đối tượng tác động của tội này

Để vật là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản thì phải thoả mãn các điều kiện sau:

Phải là sản phẩm lao động của con người

Không có tính chất và công dụng đặc biệt

Chưa bị chủ tài sản huỷ bỏ

Mặt khách quan:

Hành vi của Tội trộm cắp tài sản

Về hành vi: Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Trên thực tế, hành vi này làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản không thể thực hiện được các quyền năng (gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt hay quản lý) đối với tài sản của họ hoặc được giao quản lý, đồng thời những quyền này lại thuộc về người phạm tội và người này có thể thực hiện được các quyền này một cách trái pháp luật.

Đặc trưng của hành vi chiếm đoạt được thực hiện (hành động) một cách lén lút, bí mật. Việc lén lút, bí mật là nhằm để che giấu hành vi phạm tội để chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết việc chiếm đoạt đó. Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản với các tội có tính chiếm đoạt khác (như tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản…)

Việc che giấu hành vi phạm tội có thể được thực hiện bằng những hình thức khác nhau, cụ thể là:

Che giấu toàn bộ hành vi: Trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết được bất cứ thông tin nào về người phạm tội cũng như hành vi phạm tội (ví dụ: Lợi dụng đêm tối, lẻn vào nhà người khác lấy trộm tài sản).

Che giấu một phần hành vi: Tức chỉ che giấu riêng hành vi phạm tội (ví dụ: Kẻ phạm tội giả vờ vào hỏi chủ nhà xin nước uống, giả vờ hỏi thăm đường đi… và nhanh tay trộm tài sản giấu vào người). Trong trường hợp này chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản biết rõ người phạm tội nhưng không biết hành vi phạm tội.

Che giấu tính chất của hành vi phạm tội: Được hiểu là hành vi phạm tội được diễn ra công khai nhưng không ai biết việc phạm tội

Dấu hiệu khác:

Về giá trị tài sản chiếm đoạt:

Giá trị tài sản chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nếu giá trị tài sản dưới hai triệu đồng thì phải thuộc một trong các trường hợp:

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.

Đã bị kết án về tội này hoặc một trong số các tội quy định tại Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175, 290 nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì ngưòi thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Gây ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội

Tài sản là phương tiện kiếm của chính của người bị hại và gia đình họ (Ví dụ: Gia đình chỉ có một chiếc xe gắn máy duy nhất dùng để hành nghề xe ôm tạo thu nhập cho cả gia đình).

Tài sản là di vật, cổ vật.

Di vật: Là vật được giữ lại của một thời xưa hoặc của người đã mất 

Cổ vật: Là vật được chế tạo từ thời cỏ, có giá trị văn hóa, nghệ thuật, lịch sử nhất đinh 

Tội phạm hoàn thành từ thời điểm: Người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

Cụ thế thời điểm đối với từng tài sản sau:

Nếu vật gọn nhỏ thì coi là chiếm đoạt được khi người phạm tội đã giấu được tài sản trong người.

Nếu vật chiếm đoạt không thuộc loại nói trên thì coi là chiếm đoạt được khi đã mang được ra khỏi khu vực bảo quản.

Nếu không có khu vực bảo quản thì được coi là chiếm đoạt được khi dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu.

Hậu quả của tội trộm cắp tài sản:

Hậu quả của tội phạm này cũng là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Nói chung, tài sản bị chiếm đoạt do hành vi trộm cắp gây ra là tiền các loại, hàng hoá và các giấy tờ có giá trị thanh toán như phiếu công trái, ngân phiếu,…

Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

Hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại thì mới cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Mặt chủ quan của tội phạm

Cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt khác, tội trộm cắp tài sản cũng được thực hiện do cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt sản. Vì vậy, có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản, nếu mục đich đó không cấu thành một tội phạm độc lập.

Hiình phạt của tội trộm cắp tài sản:

Hình phạt chính:

Mức hình phạt của tội trộm cắp tài sản được chia thành 04 khung, cụ thể như sau:

Khung 1:

Có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan.

Khung 2:

Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Được áp dụng đối vối một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

Có tổ chức (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Có tính chất chuyên nghiệp (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm. Được hiểu là các thủ đoạn tinh vi rất khó phát hiện (như bố trí trộm cắp xe gắn máy tại bãi giữ xe) và các thủ đoạn mang tính nguy hiểm gây thiệt hại thêm cho chủ sở hữu (như dỡ mái nhà để trèo vào trộm cắp…)

Hành hung để tẩu thoát (xem giải thích tương tự ở tội cướp giật tài sản).

Tài sản là bảo vật quốc gia;

Tái phạm nguy hiểm (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Khung 3:

Có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Được áp dụng đối vói một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

Li dụng thiên tai, dịch bệnh.

Khung 4:

Có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.  Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau:

Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Hình phạt bổ sung:

Ngoài việc phải chịu một trong các hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể, người phạm tội trộm cắp tài sản còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về tội tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775