Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thừa kế là một trong những chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam. Ngày nay, tài sản của con người ngày càng lớn về giá trị dẫn đến những tranh chấp về thừa kế diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp. Pháp luật thừa kế đảm bảo thực hiện quyền khởi kiện, nhưng cũng quy định giới hạn thời gian để chủ thể thực hiện quyền khởi kiện, giới hạn đó gọi là thời hiệu khởi kiện thừa kế. Sau đây, bài viết về thời hiệu khởi kiện thừa kế của Công ty Luật Rong Ba sẽ cung cấp những thông tin liên quan đến vấn đề này. 

Thời hiệu khởi kiện?

Theo Khoản 1 Điều 149 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định”. Trong đó, thời hạn được hiểu là một khoảng thời gian xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác.

Tại Điều 150 thì thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

Thời hiệu khởi kiện về thừa kế?

thời hiệu khởi kiện thừa kế

thời hiệu khởi kiện thừa kế

Hiện nay, pháp luật chỉ quy định về thời hiệu nói chung và thời hiệu khởi kiện trong quan hệ dân sự, chưa có khái niệm cụ thể về thời hiệu khởi kiện thừa kế. Có thể hiểu thời hiệu khởi kiện thừa kế là thời hạn mà chủ thể được hưởng quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp thừa kế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

Theo đó thời hiệu khởi kiện thừa kế là thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền thừa kế và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

Thời hiệu khởi kiện thừa kế được quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này”

Như vậy, kể từ ngày người để lại di sản chết thì trong vòng 30 năm người thừa kế theo pháp luật được yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế là bất động sản.

Còn với di sản thừa kế là động sản, thời hạn này chỉ kéo dài trong vòng 10 năm.

Hết thời gian trên mà người thừa kế không yêu cầu chia di sản thừa kế thì người thừa kế sẽ không có quyền yêu cầu nữa mà tài sản thừa kế sẽ thuộc về người đang quản lý di sản hoặc người đang chiếm hữu hoặc thuộc về nhà nước theo quy định của Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo quy định tại Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015:

Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án.

Trường hợp thời hiệu khởi kiện không còn nhưng không có đương sự nào yêu cầu áp dụng thời hiệu hoặc đưa ra yêu cầu không phù hợp quy định của pháp luật thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án.

Trường hợp đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu đúng quy định thì cần làm rõ thời điểm mở thừa kế (thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện) và ngày khởi kiện để xác định còn thời hiệu khởi kiện hay đã hết.

Khi xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế, cần lưu ý các quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện (trường hợp sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan), quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án trong BLDS.

Để xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế cần nắm vững quy định về thời hiệu khởi kiện tại Điều 184 BLTTDS, Điều 149 và Điều 623 BLDS 2015, Điều 4 Nghị quyết 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Án lệ số 26/2018/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và tham khảo mục 1, 2 Phần III Giải đáp vướng mắc số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 và Phần I Giải đáp vướng mắc 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao.

Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế được tính từ ngày 10/9/1990.

Đối với trường hợp thừa kế mở từ ngày 10/9/1990 đến trước ngày 01/01/2017 (ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực), thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản được tính từ thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế là nhà ở thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Nghị quyết 58/1998).

Theo đó thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 (ngày Nghị quyết 58/1998 có hiệu lực), không tính vào thời hiệu khởi kiện (khoản 2 Điều 17 Nghị quyết 58/1998).

Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế là nhà ở thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Nghị quyết 1037/2006).

Theo đó, thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/9/2006 (ngày Nghị quyết 1037/2006 có hiệu lực) không tính vào thời hiệu khởi kiện (khoản 2 Điều 39 Nghị quyết 1037/2006)

Quyền khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế

Bộ luật dân sự 2015 quy định người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ mình. Do vậy khi quyết định khởi kiện bạn cần biết phương thức phù hợp

Một là bạn cần biết những ai sẽ được hưởng thừa kế? Thứ tự ưu tiên như thế nào?

Người thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế khi người để lại di sản không để lại di chúc. Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Hai là, có được quyền thừa kế khi người mất không để lại di chúc hay không?

Tại Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 đã có quy định như sau:

“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

Thực tế áp dụng luật thừa kế các tranh chấp về di sản thừa kế rất đa dạng trong đó việc hộ gia đình không thực hiện đúng thủ tục khai nhận thừa kế đôi khi cũng là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp

Ví dụ: Di sản thừa kế là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có di chúc kèm theo. Tuy nhiên khi gia đình khai nhận thừa kế thì phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ bị rách nát dẫn đến không thể thực hiện thủ tục công chứng việc khai nhận di sản thừa kế. Từ đó phát sinh thêm mâu thuẫn việc người được giao quản lý tài sản là di sản thừa kế.

Quyền nộp đơn khởi kiện lại trong trường hợp bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện do thời hiệu khởi kiện đã hết

Thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với bất động sản tăng từ 10 năm theo Bộ luật dân sự 2005 lên 30 năm theo Bộ luật dân sự 2015. Do đó, thực tế phát sinh tình huống pháp lý là những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế mà trước ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực (01/01/2017) Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do “thời hiệu khởi kiện đã hết” theo quy định của Bộ luật dân sự 2005. Tuy nhiên, tình huống này đã được giải quyết khiBộ luật dân sự 2015 quy định đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong trường hợp “thời hiệu khởi kiện đã hết”. Theo đó, Khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong các trường hợp sau đây:

Trường hợp thứ nhất: Người khởi kiện đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

Trường hợp thứ hai: Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

Trường hợp thứ ba: Đã có đủ điều kiện khởi kiện;

Trường hợp thứ tư: Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về thời hiệu khởi kiện thừa kế. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về thời hiệu khởi kiện thừa kế và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775