Quy chế rome về tòa án hình sự quốc tế

Nhu cầu về một tòa án hình sự ở quy mô quốc tế đã được nhắc đến vào cuối thế kỷ XIX. Vào đầu 1872, Gustave Moynier, một người Thuỵ Sĩ, đã đưa ra ý kiến này khi chứng kiến sự bạo tàn của cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (1870 – 1871). Tuy nhiên, tại thời điểm đó, một ý kiến như vậy đã không nhận được sự ủng hộ tích cực từ phía các quốc gia[1].

Lần đầu tiên Đại hội đồng (Liên Hợp Quốc) đã công nhận nhu cầu có một cơ chế thường xuyên nhằm truy tố những kẻ sát nhân và những tội phạm chiến tranh vào năm 1948 trong hai phiên tòa Nuremberg và Tokyo xét xử những tội phạm Đức Quốc xã [2] và Nhật Bản [3]. Từ thời điểm đó trở đi, rất nhiều điều ước quốc tế đã xác định và nghiêm cấm các hành vi tội ác chiến tranh cùng với sự phát triển của luật quốc tế bảo vệ nhân quyền.

Quy chế rome về tòa án hình sự quốc tế

Tuy nhiên những điều ước quốc tế đó lại không đưa ra được đề xuất khả thi nào về một cơ chế quy kết trách nhiệm hình sự của các cá nhân.

Thế kỷ vừa qua đã chứng kiến những đau thương, mất mát tồi tệ nhất của nhân loại trong lịch sử. Chỉ riêng trong 50 năm vừa qua, đã có hơn 250 cuộc xung đột đã nổ ra khắp thế giới, hơn 80 triệu thường dân trong đó hầu hết là phụ nữ và trẻ em đã chết trong những cuộc xung đột đó và hơn 170 triệu người đã bị tước đoạt các quyền, tài sản và phẩm giá của họ [4].

Chỉ đến khi Quy chế Rome về việc thành lập Tòa án hình sự quốc tế [5] được thông qua thì một thiết chế quốc tế thường trực có thẩm quyền truy tố những kẻ vi phạm luật quốc tế về nhân đạo mới thực sự được hình thành. 160 quốc gia đã tham gia vào Hội nghị ngoại giao của Liên Hợp quốc (LHQ) được tổ chức tại Rome từ 15/6 đến 17/7/1998 để thành lập ra Tòa án hình sự quốc tế (International Criminal Court).

Văn bản dự thảo được đệ trình tại Hội nghị lần này là kết quả của những cuộc đàm phán lớn và những thỏa hiệp rất thận trọng. Văn kiện đã được các đoàn đại biểu có mặt đồng ý thông qua trọn gói (package deal) bằng bỏ phiếu, trong đó có 120 phiếu ủng hộ, 7 phiếu chống và 21 quốc gia không tham gia bỏ phiếu.

Đây là một sự kiện hết sức có ý nghĩa đúng vào lúc cả nhân loại kỷ niệm 50 năm ngày thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (10/12/1948). Khi mới thông qua, nhiều luật gia đã dự đoán rằng phải mất vài thập kỷ mới đạt được con số 60 quốc gia phê chuẩn đủ để Quy chế có hiệu lực.

Tuy nhiên, với việc 10 quốc gia phê chuẩn Quy chế ngày 11/4/2002 [6], Quy chế tòa án công lý quốc tế sẽ bắt đầu phát sinh hiệu lực từ ngày 01/7/2002 căn cứ theo Điều 126 [7].

Quy chế được chia thành 13 phần và 128 điều khoản trong đó định nghĩa về các tội phạm hình sự, thẩm quyền xét xử, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của Tòa, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan cũng như những nguyên tắc chung của luật hình sự, bản án, thủ tục tố tụng hình sự, việc thi hành các bản án và hợp tác trong lĩnh vực hình sự, đặc biệt nhấn mạnh đến những nguyên tắc của luật hình sự quốc tế…[8]. Căn cứ theo Điều 120, các quốc gia tham gia không được phép bảo lưu đối với bất kỳ điều khoản nào trong Quy chế.

Đặc điểm của Tòa:

Theo Điều 4 của Quy chế Rome 1998 thì Tòa án Hình sự quốc tế (dưới đây gọi tắt là “Tòa”) sẽ có tư cách chủ thể luật quốc tế và năng lực pháp lý để thực hiện các chức năng và những mục đích của mình.

Căn cứ vào Quy chế, Tòa sẽ thực hiện các chức năng và quyền hạn của mình trên lãnh thổ của quốc gia thành viên Quy chế bất kỳ và căn cứ vào những thỏa thuận riêng, trên lãnh thổ của một quốc gia khác không phải là thành viên của Quy chế.

Với tư cách chủ thể độc lập như vậy, Tòa sẽ thực hiện các quan hệ với LHQ dựa trên cơ sở những thỏa thuận song phương giữa Tòa với tổ chức LHQ. Tòa sẽ đặt trụ sở tại La Haye – Hà Lan. Ngôn ngữ làm việc chính thức của Tòa là tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc và Arập. Tòa có những đặc điểm sau:

Là một Tòa án thường trực (Permanent Court). Tòa hình sự quốc tế trong tương lai sẽ khác hai Tòa án quân sự Nuremberg và Tokyo xét xử những tên tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã và Nhật bản cũng như Tòa án ad hoc về Nam Tư [9] và Rwanda [10] về thẩm quyền theo địa lý và phạm vi thời gian.

Hai Tòa ad-hoc nói trên do Hội đồng Bảo an (HĐBA) LHQ thành lập và được ủy nhiệm nhằm xét xử chỉ những tội phạm được thực hiện tại những khu vực nói trên theo những khoảng thời gian xác định.

Là một Tòa hình sự (Criminal Court). Tòa sẽ xét xử trực tiếp những tội phạm hình sự căn cứ theo những quy định của Quy chế. Do vậy, Tòa khác với Tòa án Công lý quốc tế (The International Court of Justice) có chức năng giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là chủ yếu.

Tòa hình sự quốc tế với ý nghĩa đó có cơ cấu tổ chức và hoạt động tương tự như các tòa hình sự của các quốc gia, trong đó có công tố viên (The Prosecutor) có chức năng điều tra và truy tố trước Tòa tương tự như chức năng của kiểm sát viên và công tố viên trong tòa hình sự ở các quốc gia.

Mặt khác, những tội phạm được đưa ra xét xử trước Tòa là những tội phạm hình sự quốc tế nguy hiểm nhất đáp ứng các yếu tố cấu thành tội phạm căn cứ vào luật hình sự quốc tế (International Criminal Law), trình tự thủ tục để truy tố và đưa ra xét xử căn cứ vào những trình tự thủ tục tố tụng hình sự quốc tế (International Criminal Procedure).

Là một thiết chế độc lập với các Tòa án hình sự trong nước. Thẩm quyền xét xử của Tòa là sự ‘bổ trợ” (Complementarity) đối với thẩm quyền xét xử của các Tòa án trong nước.

Do vậy, Tòa không phải là một cấp xét xử cao hơn so với các Tòa trong nước hoặc là một Tòa phúc thẩm đối với các Tòa án quốc gia.

Thẩm quyền xét xử của Tòa và hoạt động của Tòa không ảnh hưởng và chi phối đến thẩm quyền và hoạt động tương tự của các Tòa trong nước mà trái lại có sự độc lập một cách tương đối.

Là một chủ thể của Luật quốc tế. Tòa án do các quốc gia độc lập có chủ quyền thỏa thuận thành lập nên với mục đích ngăn ngừa và trừng trị những hành vi nguy hiểm nhất xâm phạm đến cộng đồng quốc tế nói chung.

Tòa được hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế là quy chế Rome về tòa án hình sự quốc tế 1998, trong đó chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi hoạt động, thẩm quyền.. của Tòa được ghi nhận cụ thể. Tòa có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, thống nhất và có khả năng đảm bảo sự hoạt động ổn định, lâu dài.

Tư cách chủ thể của Tòa độc lập với các quốc gia thành viên và hoạt động của Tòa căn cứ trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên.

Tòa là một thiết chế độc lập với LHQ. Khác với Tòa án Công lý quốc tế [11], Tòa có vị trí pháp lý độc lập với LHQ, điều đó thể hiện không chỉ ở cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn mà còn ở chỗ, Tòa có nguồn tài chính là sự đóng góp từ phía các thành viên chứ không phải sự hỗ trợ tài chính từ phía LHQ.

Đối tượng chịu sự xét xử của Tòa là các cá nhân. Đặc điểm này giúp phân biệt với Tòa án Công lý quốc tế ở chỗ Tòa án Công lý quốc tế chỉ giải quyết các tranh chấp giữa các chủ thể của luật quốc tế mà thôi. Do đó Tòa án Công lý quốc tế không chấp nhận những vụ việc mà một bên hoặc các bên là những cá nhân.

Thành phần và tổ chức của Tòa:

Thành phần:

Theo Điều 34 Quy chế Rome thì Tòa Hình sự quốc tế gồm có 4 cơ quan chính: Chủ tịch Tòa án (The Presidency); 1 Bộ phận phúc thẩm (Appeals Division); 1 Bộ phận xét xử (Trial Division) và 1 Bộ phận Tiền xét xử (Pre-Trial Division); văn phòng Công tố viên (The Office of the Prosecutor) và Thư ký Tòa (Registrar).

– Chủ tịch Tòa án (The Presidency)

Theo Điều 38, Chủ tịch Tòa án bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch thứ nhất và Phó Chủ tịch thứ hai. Những người này sẽ được bầu trong số các thẩm phán với đa số tuyệt đối.

Chủ tịch Tòa án là cơ quan chịu trách nhiệm về các công việc hành chính của Tòa trừ những chức năng thuộc về Văn phòng Công tố viên cũng như những chức năng khác được quy định trong Quy chế (Điều 38 (3), (b)).

Để thực hiện tất cảnhững trách nhiệm của mình, Chủ tịch Tòa án sẽ hợp tác với sự nhất trí của Công tố viên về tất cả các vấn đề liên quan tới chức năng của nhau.

– Các Bộ phận của Tòa (Bộ phận xét xử, Bộ phận tiền xét xử và Bộ phận Phúc thẩm)

Theo Điều 39, ngay sau khi bầu ra các thẩm phán, Tòa sẽ tự lập ra các Bộ phận cụ thể càng sớm càng tốt. Các chức năng tư pháp của Tòa sẽ do các Ủy ban trong từng Bộ phận thực hiện.

Bộ phận Phúc thẩm (Appeals Division) sẽ bao gồm Chủ tịch Tòa án và 4 thẩm phán khác; Bộ phận Xét xử (Trial Division) sẽ gồm không quá 6 thẩm phán và Bộ phận Tiền xét xử (Pre-Trial Division) sẽ gồm không quá 6 thẩm phán.

Nhiệm vụ cụ thể của các thẩm phán trong từng Bộ phận nói trên sẽ căn cứ vào tính chất của từng loại Bộ phận, tiêu chuẩn và kinh nghiệm của các thẩm phán.

Do đó, thành phần của mỗi Bộ phận sẽ bao gồm một tỷ lệ thích hợp các nhà chuyên môn trong lĩnh vực luật hình sự và tố tụng hình sự quốc tế.

Đặc biệt, các Bộ phận xét xử và Tiền xét xử sẽ bao gồm chủ yếu các thẩm phán có kinh nghiệm trong lĩnh vực xét xử tội phạm hình sự.

Các Ủy ban (Chambers) chính là những bộ phận hành chính (Administrative sub-units) của các Bộ phận. Theo Điều 39 (2), (c) thì trong mỗi Bộ phận có thể sẽ có nhiều hơn một Ủy ban tùy thuộc vào nhu cầu việc thực hiện có hiệu quả khối lượng công việc của Bộ phận.

Ủy ban Phúc thẩm (Appeals Chamber) sẽ bao gồm tất cả các thẩm phán của Bộ phận Phúc thẩm. Các chức năng của Ủy ban xét xử (Trial Chamber) sẽ do 3 thẩm phán của Bộ phận xét xử thực hiện, các chức năng của Ủy ban tiền xét xử (Pre-Trial Chamber) sẽ do 3 thẩm phán của Bộ phận tiền xét xử hoặc một thẩm phán của Bộ phận tiến hành.

Chức năng và thẩm quyền của các Ủy ban được quy định một cách cụ thể trong nhiều điều khoản tương ứng chủ yếu tại phần II, III, V và VIII của Quy chế [12].

– Văn phòng Công tố viên (The Office of the Prosecutor)

Văn phòng công tố viên là một cơ quan độc lập của Tòa chịu trách nhiệm tiếp nhận các đệ trình từ phía các quốc gia thành viên cũng như những đệ trình của Hội đồng Bảo an và những thông tin khác nhằm chứng minh về các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa đồng thời tiến hành xem xét và thực hiện các hoạt động điều tra và truy tố các tội phạm đó trước Tòa.

Công tố viên (Prosecutor) là người đứng đầu Văn phòng Công tố viên, có toàn quyền quyết định các vấn đề về quản lý và hành chính của văn phòng, như nhân viên, phương tiện bảo đảm hoạt động và những vấn đề khác (Điều 42 (1), (2)).

– Ban Thư ký Tòa án (The Registry)

Ban Thư ký của Tòa án sẽ chịu trách nhiệm về những vấn đề không thuộc chức năng tư pháp liên quan đến việc quản lý hành chính và phục vụ của Tòa.

Đứng đầu là Thư ký Tòa (Registrar) là viên chức hành chính của Tòa hoạt động dưới quyền của Chủ tịch Tòa án. Thư ký Tòa sẽ có nhiệm kỳ 5 năm, có quyền bầu lại và phục vụ toàn thời gian (full-time basis).

Thư ký Tòa sẽ được các thẩm phán bầu ra bằng bỏ phiếu kín có lưu ý đến sự giới thiệu của Hội đồng toàn thể các quốc gia thành viên (The Assembly of States Parties) [13]. Trong trường hợp cần thiết và theo sự giới thiệu của Thư ký, các thẩm phán có thể sẽ bầu ra Phó thư ký theo cách thức tương tự.

Các Phó Thư ký sẽ có nhiệm kỳ 5 năm hoặc ngắn hơn theo sự quyết định của đa số tuyệt đối các thẩm phán.

Những tiêu chuẩn, sự đề cử và bầu chọn của các thẩm phán:

Tòa sẽ bao gồm 18 thẩm phán. Tuy nhiên Chủ tịch Tòa án có thể sẽ đề xuất một số lượng nhiều hơn 18 thẩm phán nhằm đáp ứng các yêu cầu công việc của Tòa.

Chủ tịch Tòa án sẽ phải giải trình lý do để đề xuất số lượng đó tại một kỳ họp của Hội đồng toàn thể các quốc gia thành viên và sẽ được chấp thuận với tỷ lệ 2/3 số thành viên. Ngược lại, Chủ tịch Tòa án sau đó cũng có thể đề xuất một số lượng các thẩm phán ít hơn căn cứ vào số lượng công việc thực tế của Tòa.

Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, số thẩm phán sẽ không thể ít hơn 18. Đây là một thủ tục đơn giản và tương đối mềm dẻo cho phép điều chỉnh quy mô của Tòa căn cứ vào công việc thực tế của Tòa mà không cần thiết phải sửa đổi Quy chế.

– Tiêu chuẩn:

Theo Điều 36 (3), (b) thì những thẩm phán được chọn từ những người có phẩm chất đạo đức tốt, không thiên vị, liêm chính và có đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn để được bầu vào những chức vụ tư pháp cao nhất ở nước họ.

Thêm vào đó, các thẩm phán được đề cử phải có đầy đủ năng lực trong lĩnh vực luật hình sự và tố tụng hình sự cũng như có kinh nghiệm tham gia trong các vụ án hình sự như thẩm phán, công tố viên hoặc luật sư hoặc có năng lực trong những lĩnh vực liên quan của luật quốc tế như nhân quyền, luật quốc tế về nhân đạo và có kinh nghiệm sâu rộng trong chuyên môn pháp lý có liên quan đến chức năng và hoạt động của Tòa.

Ngoài ra, họ còn phải có kiến thức sâu rộng và thông thạo ít nhất là một ngôn ngữ làm việc của Tòa.

Các thẩm phán sẽ không thể tham gia vào bất kỳ vụ việc nào mà có những cơ sở xác đáng để nghi ngờ về sự vô tư của họ.

Các thẩm phán cũng có thể bị từ chối tư cách tham gia vào một vụ việc nếu trước đó họ đã đảm nhận một vị trí bất kỳ trong vụ án liên quan đến người đang bị điều tra hoặc cáo buộc trước Tòa hoặc trong một vụ án hình sự có liên quan đến người bị cáo buộc hoặc điều tra nói trên tại Tòa án quốc gia.

Trong trường hợp này, yêu cầu xem xét tư cách của thẩm phán sẽ do Công tố viên hoặc bất kỳ người đang bị cáo buộc hoặc điều tra nào đưa ra và sẽ được quyết định bởi một đa số tuyệt đối các thẩm phán (Điều 41).

– Sự đề cử và bầu chọn thẩm phán của Tòa

Theo Điều 36 (4) thì các ứng viên sẽ do các quốc gia thành viên đề cử và họ phải là công dân của những nước đó. Một quốc gia có thể chọn lựa theo thủ tục đề cử ứng viên vào các chức vụ tư pháp cao nhất ở nước mình hoặc có thể quyết định thủ tục đề cử các ứng viên cho Tòa án Công lý quốc tế nhưng không thể có hai thẩm phán đồng thời là công dân của cùng một nước.

Khi bầu chọn các thẩm phán, các quốc gia thành viên sẽ phải lưu ý tới sự đại diện của các hệ thống pháp luật chính trên thế giới; sự đại diện cho các khu vực địa lý và sự cân bằng giữa tỷ lệ nam và nữ.

Ngoài ra, các quốc gia thành viên cũng phải lưu ý đến yêu cầu của các thẩm phán phải chuyên sâu về các lĩnh vực đặc biệt như bạo lực đối với phụ nữ hoặc trẻ em.

Theo Điều 35, Tất cả các thẩm phán sẽ được bầu là những thành viên toàn thời gian (Full-time basis) của Tòa. Nhiệm kỳ của thẩm phán là 9 năm và sẽ không thể được bầu lại.

Các thẩm phán sẽ được bầu bằng bỏ phiếu kín tại hội nghị bầu các thẩm phán của Hội đồng toàn thể các quốc gia thành viên, những thẩm phán trúng cử là những người có số phiếu cao nhất và được 2/3 số quốc gia thành viên có mặt bỏ phiếu.

Trong lần bầu cử đầu tiên, 1/3 số thẩm phán sẽ bầu bằng cách rút thăm cho một nhiệm kỳ 3 năm, những người này có thể được bầu lại với nhiệm kỳ toàn thời gian; 1/3 số thẩm phán sẽ được bầu bằng rút thăm với nhiệm kỳ 6 năm và số còn lại sẽ được bầu với nhiệm kỳ 9 năm.

Quy chế tòa án công lý quốc tế

Đối với những thẩm phán được giao nhiệm vụ tại các Tòa xét xử và Tòa phúc thẩm, trong trường hợp nhiệm kỳ của họ đã hết, họ vẫn sẽ tiếp tục theo đuổi vụ án mà họ đã đảm nhận trước khi nhiệm kỳ của họ chấm dứt.

Chú thích :

[1] History of the idea of an International Criminal Court – http://www.auswaertiges-amt.de/

[2] Tòa án quân sự Nuremberg (The Nuremberg Military International Tribunal) được Liên Hợp quốc thành lập để xét xử những tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã vào năm 1945

[3] Tòa án quân sự Tokyo (the Tokyo Military International Tribunal) được Liên Hợp quốc thành lập để xét xử những tội phạm chiến tranh Nhật Bản vào năm 1945

[4] Questions and Answers on the International Criminal Court – http://www.iccnow.org/

[5] Nguyên bản tiếng Anh: The Statute of the International Criminal Court. Theo phân loại về tên gọi trong Luật Điều ước quốc tế thì “Statute” sẽ được gọi là “Quy chế”, dùng để chỉ một điều ước quốc tế quy định việc thành lập một tổ chức quốc tế nào đó, quy định chức năng, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức và hoạt động của tổ chức quốc tế đó, ví dụ như Quy chế của Tòa án Công lý quốc tế (Statute of the International Court of Justice).

[6] 10 quốc gia gửi thư phê chuẩn đến Ban Thư ký của LHQ vào ngày 11/4/2002 là Bosnia – Herzegovina, Bungari, Campuchia, CHDC Công gô, Ailen, Jordani, Mông cổ, Nigiê, Rumania và Slovakia.

[7] Điều 126 quy định “Quy chế sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng tiếp theo sau 60 ngày kể từ khi Ban Thư ký của LHQ nhận được thư phê chuẩn, phê duyệt, chấp thuận hoặc gia nhập thứ 60” – Quy chế Rome 1998 về thành lập Tòa án hình sự quốc tế – Nguyên bản tiếng Anh.

[8] Quy chế Rome 1998 về thành lập Tòa án Hình sự quốc tế (nguyên bản tiếng Anh) – http://www.un.org/icc/statute/status.htm

[9] Tòa án hình sự về Nam Tư cũ – ICTY (International Tribunal for the prosecution of persons responsible for serious violations of international humanitarian law committed in the territory of the Former Yugoslavia) được thành lập bởi Hội đồng Bảo an LHQ theo Nghị quyết số 827 ngày 25 tháng 5 năm 1993, là một tòa án ad hoc với mục đích xét xử cá nhân chịu trách nhiệm về những vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế trên lãnh thổ của Nam Tư cũ.

[10] Tòa án hình sự về Rwanda – ICTR (International Criminal Tribunal for the prosecution of persons responsible for Genocide in the territory of Rwanda and other such violations committed in the territory of neighboring states) tương tự như ICTY được thành lập theo Nghị quyết số 995 của Hội đồng Bảo an LHQ nhằm xét xử những cá nhân đã thực hiện các cuộc thảm sát lớn , phạm các tội ác diệt chủng và tội ác chống lại loài người ở Rwanda, tháng 11 năm 1994.

[11] Xem Điều 92 Hiến chương LHQ và Điều 1 Quy chế Tòa án quốc tế

[12] Xem Quy chế Rome 1998 về thành lập Tòa án Hình sự quốc tế (nguyên bản tiếng Anh) – http://www.un.org/icc/statute/status.htm

[13] Theo Điều 112 (1) thì Hội đồng toàn thể các quốc gia thành viên được thành lập bao gồm đại diện của tất cả các quốc gia là thành viên của Quy chế.

Hotline: 034 736 2775
Tư Vấn Online
Gọi: 034 736 2775