Quốc triều hình luật

Quốc triều hình luật” là một trong những bộ luật quan trọng nhất của Việt Nam thời kỳ phong kiến.

Nói đến Quốc triều hình luật người ta nghĩ ngay đến một bộ luật có kĩ thuật lập pháp cao, nội dung phong phú, toàn diện với nhiều giá trị nổi bật trong lịch sử pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến.

Quốc triều hình luật không chỉ được đánh giá cao hơn hẳn so với những thành tựu pháp luật của các triều đại trước đó mà còn có nhiều ý nghĩa quan trọng đối với việc biên soạn nhiều bộ luật khác của các triều đại phong kiến Việt Nam sau này.

Trong bài viêt dưới đây Rong Ba Group sẽ giới thiệu nội dung về bộ luật quốc triều hình luật cho bạn đọc có thắc mắc.

Sự ra đời và nội dung chính của “Quốc triều hình luật”.

Quốc triều hình luật” ra đời trong triều đại nhà Hậu Lê (sơ kỳ) – thời kỳ đất nước ta đạt đến đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền.

Do nhu cầu phát triển của chế độ Trung ương tập quyền, các hoạt động lập pháp của nhà Lê được đẩy mạnh nhằm xác lập sự thống trị của nhà Lê. Các vua đầu triều đã sớm có ý thức xây dựng những quy định, và luật lệ để quản lý các vấn đề trong nước: Lê Lợi đã huy động một số đại thần soạn luật lệ về kiện tụng, về phân chia ruộng đất, về hình phạt, ân xá, …

Đến thời Lê Thái Tông đã xây dựng những nguyên tắc xử các vụ án kiện cáo, hối lộ và về những hành động giao thiệp với người nước ngoài. Đời Lê Nhân Tông đã ban hành 14 điều luật về quyền tư hữu ruộng đất. Và đỉnh cao của quá trình xây dựng hệ thống luật pháp của nhà Lê chính là việc ban hành “Quốc triều hình luật” (còn gọi là “Bộ luật Hồng Đức” hoặc “Lê triều hình luật”) dưới triều Lê Thánh Tông năm 1483. Văn bản gốc của Bộ luật này hiện nay không còn. Bản “Quốc triều hình luật” được giữ lại cho đến ngày nay đã được các vua thời Lê mạt bổ sung ít nhiều, ban hành năm 1777 (Cảnh Hưng thứ 38). Bộ quốc triều hình luật bao gồm 6 quyển, 722 điều:

Quyển 1 có 2 chương: Danh lệ (49 điều), Cấm vệ (47 điều)

Quyển 2 có 2 chương: Vi chế (144 điều), Quân chính (43 điều)

Quyển 3 có 3 chương: Hộ hôn (58 điều), Điền sản (59 điều), Thông gian (10 điều)

Quyển 4 có 2 chương: Đạo tặc (54 điều), Đấu tụng (50 điều)

Quyển 5 có 2 chương: Trá nguỵ (38 điều), Tạp luật (92 điều)

Quyển 6 có 2 chương: Bộ vong (13 điều), Đoản ngục (65 điều)1. “Quốc triều hình luật” là một bộ luật có tính chất tổng hợp, phạm vi điều chỉnh rất rộng và được xây dựng dưới dạng hình sự, áp dụng chế tài hình luật. Các nhà nghiên cứu thường chia nội dung của nó thành: luật Hình, luật Dân sự, luật Hôn nhân gia đình và luật Tố tụng.

Quốc triều Hình luật – bộ tổng luật điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Quốc triều hình luật là một bộ luật lớn với 722 điều, chia thành 13 chương, có đánh số chương, điều và đặt tên cho từng chương, điều.

Dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông, Quốc triều Hình luật đã được pháp điển hóa một cách kiên trì và mạnh mẽ. Công trình này được đời sau đánh giá cao là bởi vì cả về nội dung lẫn kỹ thuật lập pháp đều hơn hẳn các bộ luật khác trong thời kỳ phong kiến Việt Nam.

Xét một số nội dung, Quốc triều Hình luật chứa đựng nhiều quy định nhân văn, tiến bộ vượt trội so với ý thức hệ phong kiến đương thời. Có được nội dung tiến bộ đó

bởi trong quá trình “san định luật lệ cho thích dụng với thời thế biến thành điều khoản”, những người soạn thảo đã kế thừa, tiếp thu và phát triển những giá trị pháp lý vốn có ở trong và ngoài nước qua các triều đại phong kiến Việt Nam và Trung Quốc.

Tư tưởng nhân văn cao cả của Quốc triều Hình luật là bảo vệ quyền con người, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em, người già, người tàn tật, người cô đơn và tầng lớp bình dân ở địa vị thấp nhất của xã hội.

Các quyền bình đẳng nam, nữ trong một số quan hệ hôn nhân, tài sản, thừa kế thông qua việc bảo vệ các quyền của người phụ nữ về quyền ly hôn của người vợ.

Nội dung của bộ luật phản ánh đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Việt Nam, thể hiện sâu đậm đặc thù, tâm sinh lý, tập quán, truyền thống tốt đẹp của xã hội Việt Nam. Đơn cử, Quốc triều Hình luật cũng quy định về thập ác (10 tội ác đặc biệt nguy hiểm), bát nghị (8 điều xét nghị giảm), ngũ hình (5 hình phạt) giống pháp luật triều Đường, triều Minh (Trung Quốc) nhưng với rất nhiều quy định về các tội danh đã được sửa đổi, bổ sung, thêm bớt cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, tập quán, truyền thống đạo đức của con người Việt Nam.

Ví dụ, “thập ác” (theo quan niệm ngày nay là 10 tội đặc biệt nghiêm trọng), theo luật nhà Đường quy định thì khi cha mẹ còn sống, con phải sống chung với cha mẹ, nếu bỏ cha mẹ xây dựng gia đình ra ở riêng là bất hiếu thuộc về một trong các tội “thập ác”. Ngược lại, Quốc triều Hình luật lại không coi là tội. Theo đó, con cái được phép xây dựng gia đình riêng khi cha mẹ vẫn còn sống.

Chính vì thế, giáo sư Insun Yu đã đưa ra nhận xét: Quốc triều Hình luật nhà Lê có 249 điều giống luật nhà Đường và 68 điều vay mượn từ luật nhà Minh, nhưng còn 456 điều của Quốc triều Hình luật thì không tìm thấy trong hai bộ luật đó của các triều đại phong kiến Trung Hoa”. Theo quan niệm cổ điển, các điều thuộc về dân luật thường không được nhà làm luật phương Đông quy định, cũng không nói rõ ràng về cách thức thảo các văn tự, chứng thực, chúc thư, không định rõ về chế độ tài sản của vợ chồng trong lúc sinh thời cũng như trong khi góa bụa, không ấn định minh bạch các việc thừa kế.

Trong khi đó, ba điều 374, 375, 376 thuộc mục “điền sản mới tăng thêm” của Quốc triều Hình luật lại ghi rất rõ những nội dung này. Về luật thừa kế, luật nhà Lê cũng giải thích cặn kẽ. Các điều về hương hỏa đã đề cập đến một chế độ hoàn toàn Việt Nam, không hề thấy trong luật nhà Đường, nhà Minh.

Không như các bộ luật ngày nay, Quốc triều Hình luật có nội dung điều chỉnh rất rộng mà nhiều người xem là một bộ tổng luật.

Bởi nội dung của nó điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội, bao gồm quy định của nhiều ngành luật như: hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, tố tụng, đất đai… Bộ tổng luật mang tính đa ngành luật là một phương tiện thuận lợi cho việc tra cứu, thực hiện và áp dụng pháp luật.

Trước hết, Quốc triều Hình luật là bộ tổng luật, chứa đựng quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật, nhưng đều được trình bày theo kỹ thuật lập pháp của luật hình sự. Điều này có nghĩa trong từng điều luật đều được xác định hành vi vi phạm và chế tài.

Ở mỗi điều luật đều mô tả các dấu hiệu của hành vi và nếu vi phạm thì đều phải chịu chế tài tương ứng, tùy theo hành vi vi phạm nặng, nhẹ. Ngoài các chế tài hình sự mang tính đặc trưng, bộ luật còn chứa đựng các chế tài dân sự, hành chính, hôn nhân gia đình.

Bên cạnh hệ thống hình phạt ngũ hình: xuy hình (đánh roi), trượng hình (đánh bằng trượng), đồ hình (giam cầm và khổ dịch), lưu hình (đầy đi phương xa), tử hình (tội chết), Quốc triều Hình luật còn có các chế tài dân sự, hành chính, hôn nhân gia đình như phạt tiền hay chế tài hành chính, phạt biếm hoặc bãi chức.

Điều 122 quy định phàm nhận được chế, sắc phải thi hành, việc gì mà làm trái đi thì phải tội đồ, làm sai thì xử tội biếm hay phạt. Có thể nói, trong 722 điều của Quốc triều Hình luật, ngoài các quy định có tính chung, nguyên tắc ra thì hầu hết các điều luật nào đi liền với việc mô tả hành vi và tương ứng với nó nếu vi phạm đều có quy định về chế tài xử lý tương ứng.

Có những điều luật quy định không những chế tài hình sự mà còn cả các chế tài dân sự, hành chính. Chế tài là một bộ phận không thể thiếu trong từng điều luật đi liền với từng điều luật là một đặc trưng của các bộ luật trong thời kỳ phong kiến, đặc biệt là Bộ tổng luật Hồng Đức thể hiện nhu cầu áp dụng pháp luật thống nhất tạo thuận tiện và dễ dàng trong việc thực hiện và áp dụng.

Hai là, pháp điển hóa Quốc triều Hình luật là quá trình chắt lọc để thu hút, kế thừa và phát triển các giá trị tiến bộ và phù hợp trong các quy định pháp luật của các triều đại Lý – Trần, nhất là các quy định pháp luật của các vua Lê trước đó (trước vua Lê Thánh Tông).

Đây là đặc trưng vô cùng quan trọng trong công tác pháp điển hóa được thể hiện trong Quốc triều Hình luật.

Thông qua các chiếu dụ và thực tiễn áp dụng pháp luật được ghi chép lại trong Đại Việt sử ký toàn thư hay Lịch triều hiến chương loại chí cho thấy Quốc triều Hình luật đã có sự kế thừa, phát triển một số giá trị phù hợp trong Hình thư thời Lý và Hình luật thư đời Trần.

Cụ thể, hình phạt đồ được quy định thêm, trở thành hình phạt đồ và lưu (hình phạt đồ được quy định nhẹ hơn so với hình phạt đồ thời Lý – Trần, còn hình phạt lưu là hình phạt bổ sung ba mức độ – ba bậc lưu khác nhau).  Quốc triều Hình luật cũng sử dụng hình phạt tiền nhưng với ba bậc cao thấp khác nhau, cao nhất là từ 300 – 500 quan và điều đáng lưu ý là hình phạt tiền được sử dụng khá phổ biến có tới 166/ 722 điều (chiếm 23%) điều khoản quy định biện pháp phạt tiền (chủ yếu là áp dụng đối với hàng quan lại không hoàn thành công vụ và được xem là một chế tài độc lập).

Luật nhà Trần quy định che giấu tội phạm chỉ những người là vợ chồng, cha con (theo Chiếu năm 1315), nhưng quốc triều hình luật đã mở rộng diện che giấu tội phạm cho nhau sang cả những người thân thuộc, phải để tang 9 tháng trở lên, đồng thời quy định cụ thể các tội mà người thân thuộc có nghĩa vụ phải tố cáo nhau (các điều 39, 504).

Ba là, song song với việc tập hợp, lựa chọn các quy định pháp luật đã ban hành qua các triều vua trước, Quốc triều Hình luật còn có nhiều quy định mới được đặt ra xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn lúc bấy giờ.

Ví như xuất phát từ nhu cầu bảo vệ vững chắc đất nước, hơn ai hết Lê Thánh Tông đã thấy mối họa to lớn của nạn ngoại xâm. 

Năm 1460, chưa đầy một tháng từ khi lên ngôi, ông đã ra chỉ dụ là đặt nhiệm vụ giữ nước lên vị trí hàng đầu, tiếp đến vào ngày 11/ 10 cùng năm, vua lại ra Sắc chỉ cho các quan phủ, lộ, trấn, châu, huyện rằng: “Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự tiện bỏ đi được.

Phải cương quyết tranh luận, không để cho họ lấn dần. Nếu họ không theo có thể sai sứ sang tận triều đình của họ biện bạch rõ lẽ phải trái. Nếu người nào dám đem một thước, một tấc đất đai của Thái Tổ để lại để làm mồi cho giặc, người ấy sẽ bị trừng trị nặng”.

Xuất phát từ các quan điểm đó của Lê Thánh Tông, Quốc triều Hình luật đã thể chế thành nhiều điều luật về việc đề cao tinh thần cảnh giác, thực hiện canh phòng

nghiêm ngặt các quan ải, vùng biên, đường biên. Các hành vi xâm phạm an ninh và toàn vẹn lãnh thổ, bị trừng trị nghiêm khắc.

Đó là các quy định: “người trốn qua cửa quan ra khỏi biên giới đi sang nước khác thì bị chém” (Điều 71) hoặc “sứ thần đi ra nước ngoài hay sứ thần nước ngoài vào trong nước mà trò chuyện riêng hoặc lấy của hối lộ mà tiết lộ công việc của nhà nước đều bị chém.

Các vị chánh, phó sứ và các nhân viên cùng đi, biết mà cố ý dung túng thì cũng cùng một tội. Nếu không biết thì được giảm tội” (Điều 79).

Bốn là, cùng với chọn lọc kế thừa các quy định pháp luật đã có, đặt ra các quy định mới xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn mới là khuynh hướng chính trong pháp điển hóa, hệ thống hóa Quốc triều Hình luật.

Ngoài ra, qua các tư liệu lịch sử cũng cho thấy một khuynh hướng khác là tìm kiếm các giá trị tốt đẹp trong các quy phạm đạo đức, tập quán truyền thống của cư dân để kế thừa, phát triển thành các quy phạm pháp luật trong Quốc triều Hình luật.

Đó chính là những tập quán truyền thống tốt đẹp trong các quan hệ gia đình, quan hệ làng xã được kế thừa và phát triển trong Quốc triều Hình luật. Có thể nói, Quốc triều Hình luật đã có những điều quy định rất rõ ràng về nghĩa vụ đắp đê, tu bổ đê, bảo vệ đê của công dân và những nhà chức trách.[10] Trong đó có nhiều quy định dựa trên những hương ước, tập tục làng xã được hệ thống hóa phát triển nâng lên thành luật.

Trong quá trình pháp điển hóa, quốc triều hình luật còn phản ánh sâu sắc, sự kết hợp chặt chẽ giữa Nho giáo và phong tục tập quán truyền thống, giữa pháp luật với tục lệ, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa điều chỉnh bằng pháp luật với điều chỉnh bằng các quy phạm đạo đức và quy phạm tập quán.

Điều 40 Quốc triều Hình luật quy định: “những người miền Thượng du cùng phạm tội với nhau thì theo phong tục xứ ấy mà định tội. Những người Thượng du phạm tội với người Trung Châu thì theo luật mà định tội”. Trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, Quốc triều Hình luật kế thừa nhiều phong tục, tập quán, quan niệm đạo đức của dân tộc, ví dụ:  như các quy định về các nghi lễ kết hôn như lễ chạm mặt, lễ dẫn đồ cưới, lễ đón dâu. Đặc biệt là quyền bình đẳng nam nữ trong một số quan hệ hôn nhân, tài sản, thừa kế thông qua việc bảo vệ quyền của người phụ nữ. Điều 374, 375 và 376 quy định tài sản gia đình bao gồm ba loại: một là tài sản chồng được thừa kế từ gia đình mình, hai là tài sản vợ được thừa kế từ gia đình mình, ba là tài sản chung do cả hai vợ chồng cùng kiếm được sau khi lấy nhau. Điều 375 về quyền thừa kế quy định: “nếu một trong hai người mất đi mà không có con, thì tài sản được chia theo quy định thừa kế sau đây:

Một nửa tài sản của người vợ hay chồng đã mất được chuyển cho gia đình của người ấy để duy trì cúng giỗ của người ấy.

Nửa còn lại của tài sản người đã mất được chia cho người vợ hoặc chồng còn sống để sinh tồn.

Khi người vợ hay chồng còn sống nay mất thì nửa số tài sản đó lại chuyển cho gia đình người vừa mất.

Khi tái kết hôn, người vợ còn sống mất quyền hưởng hoa lợi của nửa tài sản dành cho người đó vốn là của người chồng đã mất trước đó, nhưng nếu người chồng còn sống mà tái kết hôn thì vẫn được hưởng hoa lợi từ nửa tài sản của người vợ mất trước đó dành cho người chồng.

Tài sản mới kiếm được kể từ khi kết hôn được chia làm hai phần, một nửa dành cho vợ hay chồng còn sống để làm tài sản của người đó, còn phần kia dành cho người chết.

Trong phần tài sản mới kiếm được dành cho người đã chết thì 1/3 được dành cho cha mẹ (nếu cha mẹ đã chết thì dành cho các thành viên khác trong gia đình đó) để duy trì sự cúng giỗ cho người ấy.

Hai phần ba còn lại của nửa nói trên được dành cho người vợ hoặc người chồng còn sống để hưởng hoa lợi trong lúc còn sống.

Còn về quyền sở hữu của hai phần ba đó sau khi người vợ hay chồng còn sống mất đi hoặc tái kết hôn thì các quy tắc 3 và 4 nói trên được áp dụng”.[11]

Các quy định trên chính là sự kế thừa và phát triển một cách hài hòa, sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp, đề cao vai trò bình đẳng của người phụ nữ trong gia đình, trong việc thờ cúng những người đã mất.

Năm là, kỹ thuật soạn thảo Quốc triều Hình luật đạt đến trình độ cao vừa đủ cụ thể, chi tiết, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ áp dụng lại vừa đủ bao quát được nhiều quan hệ có liên quan nhau. Vì thế, bộ luật có tác dụng điều chỉnh sâu rộng, có sức sống lâu dài trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội. Các điều luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai… quy định rất cụ thể, thuận tiện cho việc áp dụng. Các quy định về hình sự, hầu hết đều được thể hiện bằng việc mô tả giả định, quy định và chế tài với khung hình phạt đủ rộng để không thể tùy tiện trong áp dụng. Các chương, điều sắp xếp rất hợp lý, thuận tiện cho việc tra cứu, thực hiện.

quốc triều hình luật

quốc triều hình luật

Kế thừa những kinh nghiệm quý của Quốc triều Hình luật trong hoạt động lập pháp.

Sau 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật nước ta đã phát triển mạnh mẽ theo chiều rộng để kịp thời đáp ứng cho nhu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế. Đến nay, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội về cơ bản đã có luật điều chỉnh, nhiều bộ luật đồ sộ đã ra đời.

Tuy nhiên vì phải khẩn trương đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn nên hệ thống pháp luật mới chú trọng phát triển theo chiều rộng (nhiều về số lượng để đảm bảo đủ luật trên các lĩnh vực) mà chưa chú trọng nhiều theo chiều sâu (đảm bảo chất lượng).

Vì vậy, nâng cao kỹ thuật lập pháp để có những bộ luật, đạo luật thực sự trở thành rường cột, ổn định lâu dài, đủ sức đảm đương vai trò là phương tiện hàng đầu trong xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội; trong xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân, chủ động hội nhập quốc tế và khu vực là nhiệm vụ không kém phần quan trọng hiện nay.

Trong điều kiện đó, việc nghiên cứu, tìm kiếm các giá trị về kỹ thuật pháp điển hóa của Quốc triều Hình luật để có thể kế thừa và phát triển trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có ý nghĩa thiết thực.

Từ phân tích các giá trị về kỹ thuật pháp điển hóa của Quốc triều Hình luật, có thể rút ra một số bài học cho công tác pháp điển hóa, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp sau đây:

Một là, pháp luật của nước ta hiện nay trên cùng một lĩnh vực của các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng rất nhiều văn bản pháp luật đơn hành bao gồm từ các đạo luật, bộ luật, pháp lệnh đến rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật. Điều đó không tránh khỏi mâu thuẫn, chồng chéo và rất khó khăn trong thực hiện và áp dụng pháp luật.

Vì vậy, nên chăng theo kinh nghiệm của Quốc triều Hình luật cần phải pháp điển hóa thành bộ tổng luật chứa đựng trong đó nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau.

Từ các quy định thuộc luật kinh tế, dân sự, lao động… đến các quy định thuộc luật hành chính, hình sự điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất. Trong quá trình đó, vừa căn chỉnh loại bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo không phù hợp và bổ sung những quy định mới.

Hoạt động lập pháp của nước ta hiện nay cần kế thừa và phát triển kinh nghiệm này của Quốc triều Hình luật để có những bộ luật lớn có tính chất tổng luật điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội gần gũi nhau trong một lĩnh vực, hạn chế việc ban hành các đạo luật đơn hành có phạm vi điều chỉnh hẹp như kỹ thuật lập pháp hiện nay.

Hai là, một đặc điểm khá phổ biến trong lập pháp hiện nay ở nước ta là các điều luật chỉ là các quy định mang tính nguyên tắc, mà không có chế tài gắn liền với các quy định đó.

Chế tài thường là các quy định trách nhiệm chung chung, phải xem và vận dụng ở một văn bản khác. Chính vì chế tài không gắn liền với một quy định trong một quy phạm pháp luật nên pháp luật vừa thiếu cụ thể, vừa khó khăn trong việc áp dụng, hạn chế tính bắt buộc chung của pháp luật.

Ngược lại, ở các điều luật trong Quốc triều Hình luật, chế tài bao giờ cũng gắn chặt với quy định ngay trong một điều luật, đó có thể là chế tài hình sự, hành chính hay chế tài dân sự, hôn nhân gia đình.

Kỹ thuật lập pháp này vừa làm cho các điều luật rất rõ ràng, minh bạch và cụ thể, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện và áp dụng pháp luật, lại vừa làm cho các quy định pháp luật có hiệu lực thực thi rất cao trong đời sống xã hội. Kỹ thuật lập pháp này càng cần được kế thừa và phát triển trong xây dựng pháp luật của nước ta hiện nay.

Ba là, hoạt động pháp điển hóa không chỉ là quá trình hệ thống hóa, tập hợp hóa để loại bỏ những quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp, bổ sung, nâng cấp những điều luật đã có và đặt ra các quy phạm pháp luật mới mà trong quá trình đó, còn phải tìm kiếm các giá trị mới mà xã hội có, xã hội cần, xã hội ủng hộ để kịp thời thể chế hóa.

Theo kinh nghiệm pháp điển hóa của Quốc triều Hình luật, đó là các giá trị trong đạo đức, tập quán truyền thống trong hương ước làng xã… Những giá trị này được kịp thời thể chế hóa thành luật làm cho luật sẽ dễ đi vào cuộc sống, trở thành thói quen, thành sức mạnh bắt buộc chung của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Vì thế, đây là kinh nghiệm cần được kế thừa trong quá trình lập pháp hiện nay của nước ta.

Bốn là, các điều luật trong pháp luật nước ta còn rất dài dòng, thiếu chi tiết, cụ thể, vừa trừu tượng lại vừa thiếu tính bao quát nên rất khó nhớ, khó thực hiện. Quốc triều Hình luật là mẫu mực của các quy định, vừa cụ thể, chi tiết, vừa đủ bao quát nên rất dễ nhớ, dễ hiểu, dễ đi vào cuộc sống, hiệu lực thực thi lâu dài.

Vì thế xét về phương diện kỹ thuật thể hiện cần phải kế thừa kinh nghiệm quý báu này trong hoạt động lập pháp của nước ta hiện nay.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Rong Ba Group về bộ luật quốc triều hình luật. Nếu Quý khách hàng còn vướng mắc liên quan đến nội dung tư vấn trên của Rong Ba Group, vui lòng liên hệ theo Hotline để được tư vấn nhanh chóng và tiết kiệm nhất.

Hình thức tư vấn Tư vấn phong phú tại Rong Ba Group

Tư vấn qua tổng đài

Trong tất cả các hình thức tư vấn pháp luật hiện nay, phương pháp qua tổng đài được lựa chọn nhiều hơn cả. Bởi đây là hình thức tư vấn nhanh chóng, tiết kiệm, không giới hạn khoảng cách địa lý và thời gian. Các tư vấn viên của Rong Ba Group làm việc 24/7 luôn sẵn sàng giải đáp bất kỳ thông tin nào của bạn.

Cách kết nối Tổng đài Rong Ba Group

Để được các Luật sư và chuyên viên pháp lý tư vấn về chế độ thai sản, khách hàng sẽ thực hiện các bước sau:

Bước 1: Khách hàng sử dụng điện thoại cố định hoặc điện thoại di động gọi tới số Tổng đài

Bước 2: Sau khi kết nối tới tổng đài tư vấn , khách hàng sẽ nghe lời chào từ Tổng đài và làm theo hướng dẫn của lời chào

Bước 3: Khách hàng kết nối trực tiếp tới tư vấn viên và đặt câu hỏi hoặc đề nghị được giải đáp thắc mắc liên quan đến bảo hiểm xã hội;

Bước 4: Khách hàng sẽ được tư vấn viên của công ty tư vấn, hướng dẫn và giải đáp các thắc mắc liên quan

Bước 5: Kết thúc nội dung tư vấn, khách hàng lưu ý hãy lưu lại số tổng đài vào danh bạ điện thoại để thuận tiện cho các lần tư vấn tiếp theo (nếu có)

Thời gian làm việc của Tổng đài Rong Ba Group

Thời gian làm việc của Tổng đài Rong Ba Group như sau:

Ngày làm việc: Từ thứ 2 đến hết thứ 7 hàng tuần

Thời gian làm việc: Từ 8h sáng đến 12h trưa và từ 1h chiều đến 9h tối

Lưu ý: Chúng tôi sẽ nghỉ vào các ngày chủ nhật, ngày lễ, tết theo quy định của Bộ luật lao động và các quy định hiện hành

Hướng dẫn Tư Vấn Luật tổng đài: 

Nếu bạn có nhu cầu tư vấn, giải đáp thắc mắc pháp luật bạn vui lòng Gọi số  nghe hướng dẫn và lựa chọn lĩnh vực cần tư vấn để gặp, đặt câu hỏi và trao đổi trực tiếp với luật sư, luật gia chuyên môn về Bảo hiểm Thai sản.

Trong một số trường hợp các luật sư, chuyên viên tư vấn pháp luật của chúng tôi không thể giải đáp chi tiết qua điện thoại, Rong Ba Group sẽ thu thập thông tin và trả lời tư vấn bằng văn bản (qua Email, bưu điện…) hoặc hẹn gặp bạn để tư vấn trực tiếp.

Tư vấn qua email

Sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật qua email trả phí của Rong Ba Group bạn sẽ được:

Tư vấn ngay lập tức: Ngay sau khi gửi câu hỏi, thanh toán phí tư vấn các Luật sư sẽ tiếp nhận và xử lý yêu cầu tư vấn của bạn ngay lập tức!

Tư vấn chính xác, đầy đủ căn cứ pháp lý: Yêu cầu tư vấn của bạn sẽ được các Luật sư tư vấn chính xác dựa trên các quy định của pháp luật. Nội dung trả lời bao gồm cả trích dẫn quy định của pháp luật chính xác cho từng trường hợp.

Hỗ trợ giải quyết toàn bộ, trọn vẹn vấn đề: Cam kết hỗ trợ giải quyết tận gốc vấn đề, tư vấn rõ ràng – rành mạch để người dùng có thể sử dụng kết quả tư vấn để giải quyết trường hợp thực tế đang vướng phải

Do Luật sư trực tiếp trả lời: Câu hỏi của bạn sẽ do Luật sư trả lời! Chúng tôi đảm bảo đó là Luật sư đúng chuyên môn, nhiều kinh nghiệm, có khả năng tư vấn và giải quyết trường hợp của bạn!

Phí tư vấn là: 300.000 VNĐ/Email tùy thuộc vào mức độ phức tạp của vụ việc mà bạn đưa ra cho chúng tôi.

Nếu cần những căn cứ pháp lý rõ ràng, tư vấn bằng văn bản, có thể đọc đi đọc lại để hiểu kỹ và sử dụng làm tài liệu để giải quyết vụ việc thì tư vấn pháp luật qua email là một dịch vụ tuyệt vời dành cho bạn!

Nhưng nếu bạn đang cần được tư vấn ngay lập tức, trao đổi và lắng nghe ý kiến tư vấn trực tiếp từ các Luật sư thì dịch vụ tư vấn pháp luật qua tổng đài điện thoại là sự lựa chọn phù hợp dành cho bạn!

Tư vấn luật trực tiếp tại văn phòng

Nếu bạn muốn gặp trực tiếp Luật sư, trao đổi trực tiếp, xin ý kiến tư vấn trực tiếp với Luật sư thì bạn có thể sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tiếp tại văn phòng của chúng tôi!

Chúng tôi sẽ cử Luật sư – Chuyên gia – Chuyên viên tư vấn phù hợp với chuyên môn bạn đang cần tư vấn hỗ trợ bạn!

Đây là hình thức dịch vụ tư vấn pháp luật có thu phí dịch vụ! Phí dịch vụ sẽ được tính là: 300.000 VNĐ/giờ tư vấn tại văn phòng của Rong Ba Group trong giờ hành chính.

Số điện thoại đặt lịch hẹn tư vấn: 

Chúng tôi sẽ gọi lại để xác nhận lịch hẹn và sắp xếp Luật sư phù hợp chuyên môn để phục vụ bạn theo giờ bạn yêu cầu!

Tư vấn luật tại địa chỉ yêu cầu

Nếu bạn có nhu cầu tư vấn pháp luật trực tiếp, gặp gỡ trao đổi và xin ý kiến trực tiếp với Luật sư nhưng công việc lại quá bận, ngại di chuyển thì bạn có thể sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật trực tiếp tại địa chỉ khách hàng yêu cầu của chúng tôi.

Đây là dịch vụ tư vấn – hỗ trợ pháp lý có thu phí Luật sư. Phí Luật sư sẽ được báo chi tiết cụ thể khi chúng tôi nhận được thông tin địa chỉ nơi tư vấn. Hiện tại Rong Ba Group mới chỉ có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật trực tiếp tại nơi khách hàng yêu cầu.

Rong Ba Group sẽ cử nhân viên qua trực tiếp địa chỉ khách hàng yêu cầu để phục vụ tư vấn – hỗ trợ pháp lý. Để sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật trực tiếp tại địa chỉ theo yêu cầu, bạn có thể đặt lịch hẹn với chúng tôi theo các cách thức sau:

Gọi đến số đặt lịch hẹn tư vấn của chúng tôi:  (Lưu ý: Chúng tôi không tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại này. Số điện thoại này chỉ kết nối tới lễ tân để tiếp nhận lịch hẹn và yêu cầu dịch vụ).

Chúng tôi sẽ gọi lại để xác nhận lịch hẹn và sắp xếp Luật sư phù hợp chuyên môn xuống trực tiếp theo địa chỉ bạn cung cấp để tư vấn – hỗ trợ!

Rong Ba Group cam kết bảo mật thông tin của khách hàng

Mọi thông tin bạn cung cấp và trao đổi qua điện thoại cho Rong Ba Group sẽ được bảo mật tuyệt đối, chúng tôi có các biện pháp kỹ thuật và an ninh để ngăn chặn truy cập trái phép nhằm tiêu hủy hoặc gây thiệt hại đến thông tin của quý khách hàng.

Tuân thủ pháp luật, tôn trọng khách hàng, nghiêm chỉnh chấp hành các nguyên tắc về đạo đức khi hành nghề Luật sư. Giám sát chất lượng cuộc gọi, xử lý nghiêm minh đối với các trường hợp tư vấn không chính xác, thái độ tư vấn không tốt.

Với năng lực pháp lý của mình, Rong Ba Group cam kết thực hiện việc tư vấn đúng pháp luật và bảo vệ cao nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. 

Chúng tôi tư vấn dựa trên các quy định của pháp luật và trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Chúng tôi liên tục nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển con người, nâng cấp hệ thống để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn!

Rong Ba Group cung cấp dịch vụ tư vấn luật hàng đầu tại Việt Nam

Nếu các bạn đang cần tìm một công ty tư vấn luật uy tín, nhanh chóng và hiệu quả, vui lòng liên hệ với chúng tôi!

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775