Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, đặc biệt đối với chủ thể bị thiệt hại. Bài viết về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự của Công ty Luật Rong Ba giúp cho mọi người dễ dàng tiếp cận pháp luật về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.

Thẩm quyền giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm

BLTTHS 2015 không qui định cụ thể việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được thực hiện ở giai đoạn nào của quá trình tố tụng mà chỉ qui định việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự.

Tuy nhiên, ở giai đoạn xét xử sơ thẩm thì cần xác định chỉ có Tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bởi vì xét xử là chức năng đặc thù của Tòa án. Bản chất của xét xử chính là việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

 Như vậy, trước khi ra bản án thì Hội đồng xét xử phải xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan đến quyền lợi của chủ thể bị thiệt hại (bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan), xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ thể phải có nghĩa vụ bồi thường (bị cáo, bị đơn dân sự, người có nghĩa vụ liên quan) hay nói cách khác Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết trong vụ án hình sự phần trách nhiệm dân sự liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại của chủ thể có quyền yêu cầu.

 Vì vậy, cần qui định rõ trong BLTHS 2015: “Thẩm quyền giải quyền vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án”.

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

 Theo qui định tại Điều 588 BLDS 2015 “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm” thì thời hiệu khởi kiện của người bị thiệt hại đã không còn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của họ.

Vì vậy, theo tác giả, BLDS 2015 cần có qui định bắt đầu tính lại thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại khi Tòa án đình chỉ vụ án hình sự hoặc khi Tòa án tách vấn đề dân sự ra khỏi vụ án hình sự để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự.

Hình thức giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ở giai đoạn xét xử sơ thẩm

Trình tự, thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

BLTTHS 2015 không qui định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Vì vấn đề dân sự được giải quyết đồng thời với vụ án hình sự nên có thể hiểu là việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ tuân theo trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự.

Người có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại được sử dụng kết quả đó của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự mà không cần phải chứng minh mức độ thiệt hại hoặc giá trị tài sản. Đây chính là ưu điểm và đặc thù của việc giải quyết việc kiện dân sự trong vụ án hình sự.

Tuy nhiên, khi áp dụng pháp luật tố tụng hình sự vào việc giải quyết vấn đề dân sự cũng đã phần nào hạn chế quyền của chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi họ không được Tòa án tổ chức hòa giải để các bên tự thương lượng, thỏa thuận với nhau.

 Rõ ràng, đây là vấn đề dân sự, cần tôn trọng quyền quyết định tự định đoạt của các bên; còn về phần trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng có quyền giải quyết theo qui định pháp luật, không thể vì vấn đề dân sự được giải quyết trong vụ án hình sự mà làm hạn chế quyền của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật này. Vì vậy, ở giai đoạn xét xử sơ thẩm cần qui định:

“Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án có thể tổ chức hòa giải để bên yêu cầu bồi thường thiệt hại và bên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tự thương lượng thỏa thuận với nhau. Trường hợp họ thỏa thuận được với nhau và sự thỏa thuận này không trái pháp luật, đạo đức xã hội thì Tòa án sẽ ghi nhận sự thỏa thuận của các chủ thể này vào trong bản án”.

“Khi bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án rút toàn bộ yêu cầu bồi thường của họ thì Tòa án đình chỉ yêu cầu bồi thường dân sự”.

Một vấn đề khác cũng cần được quan tâm là trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử sơ thẩm lại hay việc Tòa án giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định của bản án phúc thẩm hoặc cả quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử lại từ cấp phúc thẩm hoặc từ cấp sơ thẩm thì thủ tục giải quyết sẽ theo thủ tục tố tụng dân sự hay là thủ tục tố tụng hình sự?

Theo tác giả, đây là điểm tiến bộ của pháp luật nước bạn mà Việt Nam cần tham khảo đưa vào pháp luật của Việt Nam bởi vì như đã phân tích ở phần trên, khi giải quyết vấn đề dân sự mà lại hạn chế quyền quyết định tự định đoạt của đương sự thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của họ. Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi theo hướng:

“Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử sơ thẩm lại hay việc Tòa án giám đốc thẩm, tái thẩm hủy quyết định của bản án phúc thẩm hoặc cả quyết định của bản án sơ thẩm về phần dân sự để xét xử lại từ cấp phúc thẩm hoặc từ cấp sơ thẩm thì việc thụ lí, giải quyết phần dân sự bị hủy được tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự”.

giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

 Việc tách vụ án dân sự ra để giải quyết riêng

Điều 30 BLTTHS 2015 qui định: “… Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự“. 

Theo qui định tại Điều 30 BLTTHS 2015 thì chỉ được tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự đối với phần dân sự về vấn đề bồi thường, bồi hoàn, chưa bao hàm các nội dung đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt, buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng.

 Vì vậy, khi tách vấn đề dân sự ra khỏi vụ án hình sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thì cũng cần xác định các vấn đề được tách là tất cả các vấn đề dân sự được xem xét giải quyết trong vụ án hình sự hay nói cách khác vấn đề dân sự được tách cũng nằm trong phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Điều 30 BLTTHS 2015 qui định như vậy là đã thu hẹp phạm vi các vấn đề dân sự được tách ra khỏi vụ án hình sự, do đó cần điều chỉnh theo hướng xác định các vấn đề dân sự được tách trong phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.

Điều 586 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:

  1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
  2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

  1. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Căn cứ quy định trên thì người bạn đó phải tự bồi thường cho hành vi gây thiệt hại của mình do người bạn đó là người đã thành niên. Nên nếu người bạn đó có tài sản riêng thì bố mẹ người đó phải lấy tài sản riêng của người bạn đó để bồi thường cho bạn; còn bố mẹ người bạn đó không phải lấy tiền của họ ra để bồi thường.

Trong trường hợp người bạn đó có tài sản riêng nhưng bố mẹ bạn đó không chịu lấy ra để bồi thường cho bạn như quyết định mà Tòa án đã tuyên thì cơ quan thi hành án sẽ cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 46 Luật thi hành án dân sự 2014 bằng các biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 71 Luật thi hàng án dân sự 2014.

Điều 71 Luật thi hành án dân sự 2014 quy định về Biện pháp cưỡng chế thi hành án như sau:

“1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

  1. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
  2. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
  3. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
  4. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
  5. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.”

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775