Chia thừa kế theo di chúc

Thừa kế tài sản là một quan hệ pháp luật dân sự vừa mang tính đạo lý vừa mang tính lợi ích kinh tế. Việc thừa kế tài sản trong thực tiễn diễn biến rất phức tạp. Di chúc là sự bày tỏ ý chí của người để lại di sản nhằm định đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của mình cho một hoặc nhiều người sau khi người đó chết. Chia thừa kế theo di chúc tiến hành như thế nào? Bài viết của Công ty Luật Rong Ba sau đây sẽ trình bày những vấn đề về di chúc, chia thừa kế theo di chúc và cùng những vấn đề liên quan đến thừa kế theo di chúc

Khái quát chung về di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải của bất cứ chủ thể nào khác. Ý chí này là ý chí đơn phương của mỗi cá nhân, theo đó, người lập di chúc quyết định chuyển giao một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho người đã được họ xác định trong di chúc.

Đặc điểm của di chúc:

Một là, di chúc thể hiện ý chí của người để lại di chúc trong việc định đoạt tài sản của mình

Hai là, di chúc ghi nhận sự chuyển dịch tài sản của người để lại di sản cho người được hưởng thừa kế sau khi người đó chết

Ba là, di chúc chỉ được coi là hợp pháp nếu nó đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định

Bốn là, di chúc chỉ có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người lập di chúc chết.

Năm là, di chúc luôn trong tình trạng có thể bị người lập ra nó huỷ bỏ

Việc lập di chúc được thực hiện với mục đích là chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác. Một người khi còn sống nếu đã xác lập được khối tài sản của riêng mình thì họ cũng mong muốn rằng khi mình chết đi số tài sản đó đã được định đoạt cho ai. Tài sản này phải tồn tại và những nội dung về tài sản của người để lại di chúc được ghi nhận trong di chúc thì việc chuyển dịch tài sản này mới có thể diễn ra trên thực tế.

Di chúc sẽ có hiệu lực pháp luật khi nó đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể như sau:

“1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”

Về hình thức Di chúc (Điều 6276 BLDS):

chia thừa kế theo di chúc

chia thừa kế theo di chúc

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Nếu Di chúc được lập thành văn bản thì gồm có các nội dung sau: (Điều 653 BLDS)

“Điều 631. Nội dung của di chúc

1. Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản.

2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.

3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.”

Nếu di chúc bằng miệng, người viết di chúc không thể tự mình viết bản di chúc, phải có 02 người làm chứng, riêng những đối tượng sau không được làm chứng

Hiệu lực của di chúc:

Một di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi nó tuân thủ những yêu cầu khách quan của pháp luật quy định, từ đó ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ thừa kế, đây chính là điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực. Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hiệu lực của di chúc:

“1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.

2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

3. Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.”

Điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật:

Thứ nhất, Người lập di chúc chết

Thời điểm một cá nhân chết cũng được coi là thời điểm mở thừa kế và “Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế” theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015. Như vậy thời điểm cá nhân chết sẽ là thời điểm mà di chúc phát sinh hiệu lực.

Thứ hai, Người được thừa kế theo di chúc phải còn sống, còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Nếu cá nhân được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc mà không còn sống hoặc tổ chức được hưởng di sản thừa kế không còn tổn tại vào thời điểm mở thừa kế thì quá trình chuyển tài sản của di chúc trở lên vô nghĩa và không thi hành được. Lúc này phần di san chia cho cá nhân đã chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc hay chia cho tổ chức không còn tồn tại sẽ vô hiệu, nên phần di sản đó được chia thừa kế theo pháp luật

Thứ ba, Di sản thừa kế được định đoạt trong di chúc phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Di chúc sẽ không thể phát sinh hiệu lực nếu di sản thừa kế được định đoạt trong di chúc lại không còn vào thời điểm mở thừa kế. Bởi vì nếu di sản bị hỏng hoặc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì mong muốn chuyển di sản cho người thừa kế của người lập di chúc sẽ không thực hiện được. Hơn nữa nếu di sản không còn tồn tại trên thực tế thì người thừa kế cũng sẽ không được hưởng phần di sản đó cho nên di chúc trong trường hợp này là không phù hợp.

Thừa kế theo di chúc là gì?

Thừa kế theo di chúc là việc để lại di sản và việc hưởng di sản theo ý chí của người chết được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói của người đó trước khi chết. 

Người lập di chúc:

Theo Điều 625 BLDS quy định như sau

Điều 625. Người lập di chúc

1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.”

Người lập di chúc có quyền sau đây: 

Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Người thừa kế theo di chúc

Mọi cá nhân đều có quyền nhận di sản trong trường hợp thuộc diện nhận di sản theo di chúc. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp người nhận di sản theo di chúc thì căn cứ vào quyền thừa kế của họ, họ sẽ được hưởng phần di sản mà người đã chết để lại theo đúng những điều khoản trong di chúc. Người được thừa kế theo di chúc có thể là bất kỳ ai theo ý chí của người lập di chúc.

Lưu ý: Người được thừa kế theo di chúc không được là người làm chứng cho di chúc hoặc công chứng, chứng thực di chúc.

Người thừa kế theo di chúc có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

Những người không được hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Chia thừa kế theo di chúc

Di sản thừa kế theo di chúc sẽ được chia theo ý nguyện của người để lại di chúc, tức là trong di chúc quy định về việc phân chia tài sản như thế nào thì những người có quyền thừa kế phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo di chúc đó.

Bên cạnh đó, khi chia thừa kế theo di chúc, pháp luật cũng quy định một số đối tượng hưởng thừa kế không phụ thuộc vào di chúc, cụ thể theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 thì:

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng.

Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Rong Ba về chia thừa kế theo di chúc. Nếu như bạn đang gặp phải khó khăn trong quá trình tìm hiểu về chia thừa kế theo di chúc và những vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ Luật Rong Ba để được tư vấn miễn phí. Chúng tôi chuyên tư vấn các thủ tục pháp lý trọn gói, chất lượng, uy tín mà quý khách đang tìm kiếm.

Hotline: 0347 362 775
Tư Vấn Online
Gọi: 0347 362 775